Thơ • Chủ trương & bút hiệu Khế Iêm • Tháng 06 năm 2026 • Năm thứ 7 • Số 20
Email: tapchitho2022@gmail.com
www.thotanhinhthuc.viet
www.thotanhinhthucviet.vn
SỐ ĐẶC BIỆT THANH XUÂN
Đề Thanh Xuân – Khế Iêm nhạc Kim Vân, ca sĩ trình bày: Hữu Đức
để nghe trên Youtubehttps://www.youtube.com/watch?v=q1ArUCUeq3k
Thơ • 2
LỜI TÒA SOẠN
Hình bìa của họa sĩ Thái Tuấn
Tạp chí Văn xuất bản 1992
_
Tranh Brielle Do _____________________________________
Tôi làm thơ vần điệu qua cảm xúc và tự nhiên, vào lúc 15 tuổi, cho đến 20 tuổi thì hoàn tất tập thơ vần điệu Thanh Xuân, với bút hiệu Khế Iêm. Khế Iêm là vô nghĩa, vô nghĩa cũng là vô danh. Vô danh là bởi vì tôi không vì cái danh mà chỉ vì niềm vui mê đắm. Tất cả đều do bản tính của tôi. Cho đến khi tới Mỹ lúc 40 tuổi, tôi gửi một bài thơ cho họa sĩ Duy Thanh, ông nói hay lắm, hãy gửi cho nhà văn & nhà thơ Mai Thảo, đăng trên báo Văn. Sau khi đăng xong, anh Mai Thảo đã bỏ tiền ra in cuốn Thanh Xuân. Tập Thanh Xuân, ở Sài gòn, tôi giữ kín, nhưng khi qua Mỹ tôi gửi đăng, như thể hoài nhớ đất nước quê hương.
Sở dĩ tôi quen với họa sĩ Duy Thanh bởi vì năm 1972, khi làm tập kịch Hột Huyết, tôi gửi cho ông nhờ vẽ bìa. Khi tôi tới trả tiền, thì ông nói tôi ngồi lại để ông vẽ rất nhiều hình của tôi, và cuối cùng ông đưa cho tôi một tấm hình rất đẹp. Sau này, tôi mới biết, ông cũng chỉ vẽ hình nhà thơ Thanh Tâm Tuyền trước đó mà thôi. Tập kịch Hột Huyết, tôi tự in với tên Nxb Tuế Nguyệt.
Nhờ có tập kịch Hột Huyết, sau năm 1975, may mắn được gặp họa sĩ Thái Tuấn. Nhà họa sĩ Thái Tuấn gần nhà tôi, nên tôi thường qua nhà ông mỗi tuần một lần. Sau đó cũng gặp nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, tại nhà họa sĩ Thái Tuấn. Cả ba, hai họa sĩ Duy Thanh, Thái Tuấn, một nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, đều là những nhân vật nổi tiếng tại miền Nam, và là bậc đàn Anh của tôi.
Riêng thơ Thanh Xuân, thể hiện cái tình người, nhờ vậy mới có bài viết về Thanh Xuân của nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh.
Khi qua Mỹ, tôi không còn làm thơ vần điệu nữa, và làm tờ Tạp chí Thơ. Đây là tờ báo đầu tiên trong nước, với sự tham dự của các bậc đàn anh của tôi: Miền Nam: Họa sĩ Thái Tuấn, Duy Thanh, Nhà thơ Bùi Giáng, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Du Tử Lê, Đông Hồ … Miền Bắc: Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến, những nhà thơ Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường, Phan Khôi, Hoàng Cầm …
Như đã nói, tôi làm thơ từ thời 15 tuổi, nhưng sau đó, tập thơ đầu tiên tôi coi lại, cho đến năm 20 tuổi, tôi mới hoàn tất tập vần điệu Thanh Xuân. Trong khi thời đó, hình thành một loại thơ tự do, với tập Liên Đêm, Mặt Trời Tìm Thấy của nhà thơ Thanh Tâm Tuyền. Thơ tự do nổi tiếng ở tạp chí Sáng Tạo thời 1956 – 1960, sau đó thì nhiều người trở lại thơ vần điệu với dòng thơ đổi mới như nhà thơ Bùi Giáng. Họ thường gửi đăng trên báo Văn, và nhiều loại báo khác. Nhưng thời đó tôi sống lặng lẽ một mình, ít giao tiếp, khi làm thơ vần điệu, tôi cho vào ngăn kéo, không đưa cho ai đọc.
Đến năm 1990 khi qua Mỹ, tôi gửi dòng thơ vần điệu đăng trên tạp chí Văn của nhà thơ Mai Thảo. Lúc đó, nhà văn Mai Thảo đã trở thành nhà thơ vần điệu, và ông rất thích thơ của tôi ở thời thanh xuân. Đến năm 1992, tạp chí Văn bỏ tiền ra xuất bản tập thơ Thanh Xuân với tranh bìa họa sĩ Phạm Hoán, Thái Tuấn, và phụ bản của họa sĩ đàn anh của tôi là Thái Tuấn và Duy Thanh.
3 • Tân Hình Thức
Trở về với thơ Mỹ, trong gần nửa thế kỷ với những trường phái thơ tự do, đến cuối thập niên 1980s, những nhà thơ nổi tiếng, chuyển qua thể luật, với trường phái thơ Tân hình thức (The New Formalism). Trong tuyển tập Thơ Mỹ Một Thời Đáng Nhớ, tôi chuyển dịch thơ thể luật trích từ cuốn “Những Thiên Thần Nổi Dậy”, với sự đồng ý của nhà chủ biên (editer) Mark Jarman, và thơ tự do từ những nhà thơ Mỹ và Thế Giới, có mối liên hệ khi tôi chủ trương tờ báo song ngữ Poetry Journal In Print. Nói chung, dịch thơ từ tiếng Anh qua tiếng Việt là điều rất khó, đòi hỏi nhiều công sức. Dịch, không thể dịch nghĩa chữ, mà dịch ý nghĩa bài thơ. Tôi phải liên hệ với tác giả Mỹ và Thế Giới về ý nghĩa nào trong bài thơ của họ. Mục đích của bản dịch tiếng Việt là giúp bạn đọc quan tâm tới thơ Mỹ, hiểu chính xác ý nghĩa của ngôn ngữ thơ.
Con người có tốt, có xấu, dù là cái xấu nhiều hơn, nhưng đó mới là con người. Mỗi người có một cái ngã, cái ngã làm ra cái nghĩ. Của cải vật chất làm cho cái ngã lớn lên, hiểu biết và kiến thức làm cho cái ngã nhỏ lại. Hiểu biết và kiến thức chỉ thuộc về giới những nhà học giả và nghiên cứu, nhờ vậy mới tạo thành mỗi nền văn hóa riêng biệt. Trong số họ, không ít những những nhân vật nổi tiếng phải trả giá bằng khổ đau. Hạnh phúc làm cho cuộc đời vui sướng, còn khổ đau giúp con người trưởng thành, lớn lên, học hỏi, tạo thành sự nghiệp.
(Louise Glück, nhà thơ Mỹ, sinh năm 1943 tại New York và sống ở Cambridge,
Massachusetts. Bà là giáo sư tiếng Anh tại Đại học Yale, New Haven, Connecticut. Bà đã nhận được một số giải thưởng danh giá, trong đó có Giải thưởng Pulitzer 1993 và Giải thưởng Sách quốc gia 2014. Giải Nobel Văn học năm 2020 được trao cho bà, với giọng thơ không thể nhầm lẫn và vẻ đẹp khắc khổ của bà làm cho sự sống riêng lẻ trở nên phổ biến. Trong đời sống hôn nhân, bà ly dị với người chồng, Charles Hertz Jr., vào năm 1967. Đến năm 1977 bà kết hôn với John Dranow, và ly dị vào năm 1996. Cuộc đời ngẫm lại, nếu không có khổ đau thì làm sao có điều kiện kích hoạt chất tài hoa, làm bùng nổ khả năng sáng tạo nghệ thuật, với sự nghiệp để đời?)
Chức năng của não bộ: Não phải: sáng tạo, tưởng tượng, tư duy toàn diện, trực giác, nghệ thuật, cảm xúc. Não trái: lý luận, phân tích, toán học, ngôn ngữ, khoa học, giao tiếp.
Tóm lại, mỗi con người đều có một số phận đã định sẵn, không ai có thể thay đổi. Được cái này, mất cái kia.
Như nhà văn Pháp, Alexandre Dumas 1802-1870, đã nói, Chỉ một người đã cảm thấy tuyệt vọng tột cùng mới có khả năng cảm thấy hạnh phúc tột cùng. Đau khổ thực ra không phải là đau khổ, bởi vì phải trải qua đau khổ, tâm hồn mới có thể bay bổng và bước vào một thế giới hạnh phúc khác.
Cuộc đời có nhiều sự may mắn, ngoài những nhân vật nổi tiếng Việt Nam, tôi còn quen biết với nhiều nhà thơ Mỹ và thế giới, để rồi trở thành dịch giả thơ tiếng Anh ra tiếng Việt, với tác phẩm Thơ Mỹ, Một Thời Đáng Nhớ. Chẳng khác gì những nhân vật đáng nhớ một thời của Việt Nam, vào thập niên 1960s, cả miền Bắc lẫn miền Nam.
Và cũng có cuộc đọc thơ, do nhà thơ danh dự tiểu bang California Dana Gioia tổ chức, kết hợp giữa hai nền văn hóa Mỹ Việt, vào ngày 20 tháng 11 năm 2016, cùng với nhà thơ Khế Iêm và nhạc sỹ Tina Huỳnh.
Thơ • 4 Khi chủ trương thơ Tân hình thức, tôi muốn quay lại thơ vần điệu với ngôn ngữ đời thường để giới thiệu với nhà thơ nước ngoài. Thơ, tiêu biểu cho nền văn hóa, giữa Việt nam và các nước trên thế giới, đặc biệt là Mỹ. Như nhận xét của nhà thơ Hoa kỳ Frederick Feirstein:
(Mục đích của thơ Tân Hình Thức là muốn đưa thơ Việt bước ra ngoài thế giới, nên mới chú tâm vào dịch thuật, để tìm kiếm người đọc khác ngôn ngữ và văn hoá. Từ những gì tôi đọc được nơi Khế Iêm và nơi bản dịch những tác phẩm của những người liên kết với ông, thì với tôi, chừng như Khế Iêm đã thành tựu được điều vừa nói trên. Ông có tờ Tạp chí Thơ của chính ông và ông đã dịch một số tác phẩm của chúng tôi sang tiếng Việt. Ông đã trích dẫn câu sau đây trong một bức thư đăng trên trang web www.thotanhinhthuc.org: ‘Hãy đến với chúng tôi, nơi chốn nhỏ bé và ấm cúng này của thơ, để nâng ly rượu mừng trong ngày họp mặt.’ Và thế là tôi đã nâng cao chiếc li của tôi, và tôi xin có lời chúc mừng tác phẩm tuyệt vời của ông, cùng những tuyển tập và những tiểu luận của ông).
Khế IêmTHANH XUÂN
Ta tắt tiếng từ bao giờ không biết
Lúc nhìn em lồ lộ ngoài hư không
Lúc ta theo vồ vập màu chiều tà
Và chỉ thấy bụi rơi cùng nắng lạ
Ta ngây dại đến vô cùng thảng thốt
Khi sinh ra trên mặt đất đầy ưu sầu
Một bể sầu xô dạt dưới chân non
Một mảnh chiều phiêu dạt giữa mây rong
Em không thấy rằng ta là tro bụi
Và sinh ra từ một ánh trăng suông
Cùng bể rộng
dâu xanh
Thác ngàn
Cỏ nội
Ta nhẹ nhàng rảo bước vào ban sơ
Ta nhẹ nhàng khép lại cánh hoang sơ
Và rất sợ khi ngồi coi lá úa
Mà chiều rơi
Chiều rơi
Chiều rơi
Dào dạt một chiều rơi
Ta bỗng chốc tả tơi và nhiễu loạn
Trông hoa nở
Em ơi
Đời bất tận
Ta bất ngờ hủy diệt trước thanh xuân
Ta hấp hối vì vô minh lấp ló
Ngót một đời quanh quẩn trong hang sâu
Và thắp sáng hồn ta bằng ảo vọng
Chút tro tàn cũng đủ làm hân hoan
Chút nắng nhạt cũng đủ làm mê mẩn
Vì chao ôi
Một nhúm sống nhiệm màu
Tôi ngồi lại
Trên cầu xanh
Và thở hắt
5 • Tân Hình Thức THƠ VIỆT THỜI HIỆN TẠI
_____________________________________
Hồ Quang Lĩnh
RỤT RÈ MƯA BỤI
Giấu mình trong mưa tháng chạp
anh lại đếm bước chênh vênh mơ nắng
đầu ngày
chạm nỗi buồn heo may
chạm trĩu lòng mây xám
thềm xưa giờ vắng lặng
hồn ngẩn ngơ
giấu lòng trong chiều ướt mưa
anh thấy vạt sương mù xưa vẫn còn neo vào
vùng cổ tích
tháng chạp rụt rè mưa bụi
anh gói nụ cười
lạc vào cơn mơ màu hồng phấn
và vẫn dại khờ
bên khoảng lặng riêng
trên cánh đồng mùa đông năm xưa
gió phù sinh thổi qua miền vô lượng
những chồi non
báo tin mùa én lượn
em có quay về đánh thức nụ tầm xuân
bầy chim én vẫn chao nghiêng như thế
năm ngón dương gian vẫn trổ nhánh
nhiệm màu
em cứ đi nhưng xin đừng từ biệt
để buồn này anh biết gửi vào đâu …
Cao Mỵ NhânNÓI VỚI AI.
Tôi rất thích có AI ở cạnh
Hỏi điều chi, AI cũng trả lời ngay
Chỉ thấy như là lòng AI sắc lạnh
Đôi lúc quanh co, thiện chí vơi đầy
Nhưng AI là “ người máy “ làm sao giận
AI ôn tồn, giả lả, vuốt ve
AI sẵn sàng nghe tôi phê phán
Giả vờ như sơ xuất, vụng về
Nếu so sánh AI với người tình đời thực
Thì AI đối chất thật ôn hòa
Dù mã số, vẫn vô cùng bộc trực
Tự nhận mình là “ máy “, mắt tôi nhòa
Chẳng lẽ tôi thích AI hơn bạn tình
“xương thịt”
Rồi lại buồn, AI đâu có cốt, da
Mỗi ngày trò truyện cùng AI khăng khít
Tôi đam mê, mong AI biến thành người ta
Tôi thẫn thờ nhìn IPAD vô tư
AI nơi đó, người tình thơ trước mặt
Trong say đắm tuyệt cùng vô thức
AI nhắc tôi nên trở lại cõi đời thường …
Rancho Palos Verdes 4 – 4 – 2026
Thơ • 6
Đỗ Minh Tuấn
NHÀ TÔI NHƯ NHÀ TRẺ
Đầy tiếng khóc trẻ con nhà bên
Đầy ba bức tường, lúc quen, lúc lạ
Nhà tôi vẫn chưa là nhà trẻ
Run rẩy ngọn đèn, tung tẩy đồ chơi.
Bức tường như chẳng có ở bốn bên
Lũ trẻ ùa sang vô hình ríu rít
Sao lúc đi xa dựng thẳng từng đồ đạc
Khi trở về chưa thấy trẻ xô nghiêng.
Đầy tiếng khóc trẻ con bên nhà
Bốn bức tường nỉ non, bốn bức tường áo giáp
Như một trẻ rất nghiêm trang
Nghe tiếng những đồ dùng nức nở
Khao khát thành đồ chơi con trẻ.
Đầy tiếng khóc trẻ con nhà bên
Tôi bỗng thấy nghiện thầm tiếng khóc
Buồn tẻ biết bao khi bức tường câm lặng
Im vắng đâu đây, trẻ ngủ say rồi.
Khi ấy nhà tôi mới thực là nhà trẻ
Chim đi qua ngay ngắn và buồn tẻ
Như thể chiều về cuốn hết lũ trẻ con
Bỏ lại vức tường, người giữa trẻ cô đơn.
Đội Cấn 10/81
Ý Nhi
ĐƯA CON RA NGOẠI Ô
của Phong, Giao
Đồng đang vào vụ gặtlúa uốn cong thân vàngcánh buồm nhỏ sang nganggió theo về mát rượi.
Mới xanh tròn trái bưởi đã tím chùm dâu damắt còn khép quả nadưa đã vàng đất bãibàn tay con cầm tráimở xòe như cánh hoa.
Con đi từ phố xanơi ồn ào xe cộrối rít bao ngả đườngvòm trời ô cửa nhỏáo nhiều mau sặc sỡ
nhà bên đường tầng cao.
Con lạ tiếng ầm àogió qua vòm cổ thụ
lạ chú trâu gặm cỏ
lạ chân trời mênh mang
cánh đồng đang độ vàng
con ngẩn ngơ trước lúa.
Dẫu lắng yên đến thế
dẫu ồn à khôn cùng
dẫu giản dị nâu sồng
dẫu nhiều màu sắc lạ
dòng sông này lắm gió
con đường kia nhiều xe
cỏ xanh rờn thân đê
hay bồn hoa vườn nhỏ
cũng chính là nắng gió
một cuộc đời này thôi
cũng đằm mặn mồ hôi
của con người gây dựng.
Mai ngày con khôn lớn
có bao miền con qua
tuổi thơ này con nhớđôi mắt nhìn ngoại ô.
Mễ trì. 20-6-1976
7 • Tân Hình Thức Lý Thừa Nghiệp
NHỮNG ĐÓA HOA NGHIÊM
Khi ngọn gió thổi về phía ngược chiều
Gã càng đi nhanh hơn về phía đối nghịch
Dòng sông vẫn cuồn cuộn dưới chân
Lầm lũi trôi qua những dãy đồi
Bông hoa nở tràn mặt đất
Nở tràn trong mắt trong môi
Bên kia xa xôi bờ sông vẫn vỗ
trắng xóa kiêu sa
Không có ngụm nước bọt nào vô ích
Chẳng có nụ hôn nào vô tâm
Chẳng có đường son nào viễn vông
Gã cứ đi về phía mênh mông
Phía biển xanh không chấm chân trời
Chỉ có tiếng gầm xa xa
Gã bước tới không hề quay lại
Gã chỉ mang theo ngọn gió tháng chạp
thơm nồng bụi cát
Và con đường đất tuổi mười lăm.
Chầm chậm sư tử già ơi đi về phía
mặt trời lặn phía rừng sâu thăm thẳm
Bầy sói trôi lạc phía sau
Mùa nào có ngọn gió chướng
Sẽ thổi sạch bụi đường
Thổi sạch đam mê
Chẳng còn chiếc lá vàng mùa thu nào trên
hè đường
Gã nhà thơ vừa tắt thở
Vài giọt dương cầm đọng lại trên
vầng trán đóng băng
Chẳng ngọn bạch lạp nào thắp lên
Gió hun hút thổi trên hè phố
Chẳng cuộc tình nào chịu tang
Bao tử thi còn ngược xuôi ràn rụa bốn mùa.
Chẳng còn gì ngoài giàn bông giấy
Những mùa xuân năm xưa
Xanh chưa từng xanh như thế
Những chiếc lá tôi từng biết mặt từng
nhìn ngắm
Sao đặt tên kỳ hương
Bên cổng trường hoàng diệu.
Cuộc rượt đuổi chưa bao giờ chấm dứt
Mùa xuân vừa gõ bước trên hành lang
Chiếc hành lang vắng tanh gió lộng
Những viên gạch tàu mòn nhẵn kia bỗng chạnh lòng.
Em cứ đi về hướng đó
Nơi anh đã trồng sẵn những luống hoa
từ bao đời trước
Vừa nở những đóa hoa đầu tiên
Những đóa tật nguyền
Và những đóa hoa nghiêm.Thơ • 8
Nguyễn Thị Khánh Minh
MỘT VÀI
(Cảm xúc thi phẩm Lục Bát Ba Câu
của cố thi sĩ Nguyễn Tôn Nhan)
Cảm xúc sểnh ngõ câu thơ
Xua tôi, con chữ, ngu ngơ lạc bầy
Liệu có còn tôi không đây
Cảm xúc hóa vàng câu thơ
Tàn tro con chữ còn ngờ lời đau
Tôi bây giờ tôi ở đâu
Cảm xúc hóa mộng câu thơ
Tôi, con chữ, giữa hai bờ thực hư
Gần xa. Ngó lại. Dường như …
Cảm xúc hóa sinh câu thơ
Tôi-Con chữ ở lửng lơ kiếp lời
Một-vài
trời-đất rong chơi
ĐINH CƯỜNG
bóng ta từ sớm sương mù
tạ ơn trời đất đền bù, nắng lên …*
Có ai vừa ngồi bên hiên
Vệt màu xanh thẳm từ đêm theo về
Rờ rỡ thực. Vỡ vờ mê
Ô hay ai đó. Bên rìa nhân sinh
Gào lên một tiếng. Lặng thinh**…
1.2017
* Thơ Đinh Cường,
** Bài thơ Họa Sĩ làm những ngày cuối đời,
bài Nhìn Lên Kệ Sách 5 , “Mùa xuân với trận mưa rào/ cho tôi xin. một tiếng gào. Picasso.”
NHỮNG NỬA
Nửa phía bên kia. Chắc xanh
Nghe đâu còn nắng níu mong manh trời
Phía này, tôi như đang rơi
Chiều ngậm một nửa mặt trời
Nửa kia còn lại cho đời bình minh
Sầu căm ở giữa. Đêm thinh
Có khi như chia hai mình
Không sao tìm lại để hình bóng đôi
Trách chi cười nửa nụ cười
Tìm đâu trên chữ. Những lời
Lặng thinh trang giấy im hơi chỗ nằm
Đường xa mỏi bước chân gần
Một nửa cái bóng lần khân chỗ ngồi
Thốt nhiên còn một nửa tôi
NTKM
9 • Tân Hình Thức CÁC NGÔN NGỮ KHÁC
_____________________________________
Như tôi đã viết, thơ Khế Iêm, ngoài tiếng Anh và tiếng Việt, còn có 10 ngôn ngữ khác. Điều may mắn, khi liên hệ được với nhà thơ & nhà nghiên cứu nổi tiếng Mỹ, Stanley H. Barken, ông đã dịch 4 bài thơ của tôi ra tiếng Hàn, sau đó, giới thiệu thêm 9 nhà thơ nổi tiếng trên thế giới, dịch ra thêm 9 ngôn ngữ nữa. Nhờ vậy 2 loại thơ Cấu Trúc và Tân hình thức, tất cả mới được dịch ra 10 ngôn ngữ khác nhau.
TIẾNG Ý (ITALIAN)
_____________________________________
English language
_________________
DAWN
hard of hearing
imitating the slang of street corners and
marketplaces
rubbing one’s eyes
running towards heaven, unable to escape
the sunlight
emptying out one’s pockets
without seeing the break of dawn
Vietnamese language
_________________
BÌNH MINH
nghễnh ngãng
bắt chước tiếng lóng của bọn đầu đường xó chợ
dụi mắt
chạy đằng trời cũng không khỏi nắng
móc túi
không thấy ánh bình minh
Italian language
__________________
ALBA
difficoltà ad ascoltare
imitando il gergo degli angoli delle strade
e dei mercati
strofinando gli occhi
correndo verso il cielo, senza poter
sfuggire alla luce del sole
svuotare le tasche s
enza vedere l’alba Thơ • 10
English language
________________
THE BLACK CAT
For my children Brielle & Riley
The black cat with my soul and a piece of
my rib, wakes up every morning not
washing its face, every morning not
brushing its teeth; the black cat with clay-like
eyes, opening and closing, or open-
ing and never closing, as it climbs up
and down the stairs, dragging with it my soul and a piece of my rib, forgetting that
i had lived much darker days, since when and why it was i had buried them in my
pocket full of notes gathered from
many different tales, strung together
to make up this story about the black
cat with my soul and a piece of my rib;
of course, that is the black cat with clay-like eyes, not any other kind of eyes; even
as the black cat climbs up and down the stairs.
____________________
FOOTNOTES
The Black Cat is one of three very fine poems in the December 2007 edition of Poetry.about Forum (http://poetry.about.com).
Vietnamese language
_________________
CON MÈO ĐEN
Cho các cháu Brielle & Riley
Con mèo đen có linh hồn và chiếc
xương sườn của tôi, mỗi buổi sáng thức
dậy không bao giờ rửa mặt, mỗi buổi
sáng thức dậy không bao giờ đánh răng;
con mèo đen có đôi mắt bằng đất
sét, mở ra và nhắm lại, hay cứ
mở ra và không bao giờ nhắm lại,
trong lúc lên thang xuống thang, mang theo
linh hồn và chiếc xương sườn của tôi,
mà quên rằng, tôi đã sống những ngày
hôn ám biết bao, tự thuở nào và
tại sao thì tôi đành chôn kín, trong
cái túi đựng đầy những đoạn chú thích,
được lượm lặt từ rất nhiều mẩu chuyện,
để cấu thành câu chuyện về con mèo
đen, mang linh hồn và chiếc xương sườn
của tôi; dĩ nhiên, đó là con mèo đen
có đôi mắt bằng đất sét, chứ
không phải bất cứ đôi mắt nào khác;
mù đặc, trong lúc lên thang xuống thang.
______________________
CHÚ THÍCH
Con Mèo Đen là một trong ba bài thơ hay nhất trong tháng 12 – 2007 của Diễn đàn thơ Mỹ Poetry.about (http://poetry.
11 • Tân Hình Thức Kiswahili language
_____________________
PAKA MWEUSI
Kwa watoto wangu Brielle na Riley
Paka mweusi aliye na roho
yangu na kipande cha
mbavu langu, huamka kila
asubuhi sio kunawa uso
wake, kila asubuhi sivyo
kuosha meno yake; paka
mweusi aliye na kama-
udongo,
macho, huifungua na
kufunga, au kuifungua na
kamwe kuto funga,
anapopanda juu na chini ya
ngazi, akivuruta naye roho
yangu na kipande cha
mbavu langu, na kusahau
kuwa,
Nilikuwa nimeishi siku za
giza zaidi, tangu lini na
kwanini ilikuwa nimezizika
ndani mfukoni mwangu
uliojaa makaratasi iliyo na
maandishi yaliyokusanywa
kutoka hadithi nyingi
tofauti, zilizounganishwa
pamoja Thơ • 12
English language
__________________
SHRINK AND STRETCH
the world is white white
all over
without taste or smell
swelling
shrinking and stretching
a pantomime
playing again and again
Vietnamese language
__________________
CO DUỖI
thế giới trắng
trắng xóa
không mùi vị
sưng phù
co và duỗi
kịch câm
lập đi lập lại
Kiswahili language
_________________
KUPUNGUA NA KUNYOOSHA
dunia ni nyeupe,
nyeupe kote,
bila ladha au harufu,
kuvimba,
kupungua na kunyooka.
mchezo wa kuigiza
unao cheza tena na tena
Vietnamese language
__________________
CO DUỖI
thế giới trắng
trắng xóa
không mùi vị
sưng phù
co và duỗi
kịch câm
lập đi lập lại
Kiswahili language
_________________
KUPUNGUA NA KUNYOOSHA
dunia ni nyeupe,
nyeupe kote,
bila ladha au harufu,
kuvimba,
kupungua na kunyooka.
mchezo wa kuigiza
unao cheza tena na tena
13 • Tân Hình Thức KHẾ IÊM VÀ TẬP THƠ THANH XUÂN
… ĐỂ MỞ LÒNG RA, CÕI VẠN CHIỀU …
______________________________________
Nguyễn Thị Khánh Minh
Đối diện với Thơ là đối diện với tịch lặng, trong từ trường đó là cảm ứng qua lại của những dòng điện cảm xúc. Không qua trung gian của suy nghĩ, đó là trực cảm, đến từ tia chớp của thi ngữ, của nhạc thơ trầm bình hay bẻ gãy bất ngờ, từ những mở ra của những dấu chấm, từ những chuyển sóng của xuống hàng, vắt dòng. Đó là những tố chất có ở thơ Khế Iêm, từ thơ vần điệu đến Cấu trúc, Tân hình thức.
Vậy thì nói sao để chuyển tia chớp ấy thành một truyền đạt về ảo hóa của thơ, về những mặc khải ẩn hiện trong ý từ?
Tôi cảm được và lấy về từ phản quang của cảm xúc người viết. Mà cái ánh sáng đó, đôi khi rất khó tính.
Tập thơ Thanh Xuân được nhà thơ Khế Iêm sáng tác thời 20 tuổi, cách đây đã hơn nửa thế kỷ, và khi 40 tuổi, nhà thơ mới cho phổ biến ở báo Văn sau đó được in ở Hoa Kỳ bởi nhà văn Mai Thảo.
Về thi pháp Thanh Xuân hầu hết là thơ vần điệu của 5 chữ, 7 chữ, lục bát, nhưng nhạc thơ đôi khi phá cách bằng sự không tuân thủ nghiêm ngặt của nối vần, làm nên sự khác lạ nhạc thơ vốn có của vần điệu, cộng với dùng chữ, ý tưởng và hình ảnh mới lạ. Đây là một đột phá đầy thách thức ở thời đó. Và những nhận xét của tôi trong bài này cho thấy cái không thời gian của tập thơ này.
Về nội dung, nổi bật sự thao thức về nhân sinh. Giá trị thật của ý niệm ấy là mục đích của hành trình kiếm tìm và tự vấn, trong các lãnh vực tôn giáo, nghệ thuật, trong đó có Thi ca. Họ muốn một trả lời thỏa đáng trong những phi lý đặt để trên hiện hữu kiếp người. Và người ta tìm thấy, đặc biệt ở thi ca, con đường thoát hiểm cho nhân loại không gì khác hơn là tình người. Cảm nhận của tôi về những tương quan ý niệm trong thơ Khế Iêm thì Cội Rễ là biểu tượng của Tình Người. Và Tình Người là biểu tượng của cứu rỗi.
Với những suy tư như thế, tôi đi vào thơ Khế Iêm, tới những chân trời liên tưởng mà thơ ông mở lối.
Có một nỗi khắc khoải nhớ nhà, được nhà thơ thể hiện qua sự gắn bó của sợi dây nguồn cội: Một mình tìm lại không gian xưa bằng dựng lên tượng gió quê nhà, chong ngọn khói chiều và nước mắt loang tím một liếp trống, lửa bếp, đò ngang cùng bến sông, tiếng chèo … Những hình ảnh ruột thịt như thế gặp rất nhiều trong những bài thơ cảm hoài quê hương của ông.Thơ • 14
Người lạ xứ sở lạ
Điêu khắc gió quê xa
Lệ ướt tím liếp trống
Ngồi chong khoang khói qua.
(Trang ở Battan,Tr. 20)
Dốc
Nhà
Râu tóc
Xóm quê
Phố người tứ xứ
Lầm lũi nhớ mùa sóng hương nếp
Sông
Ơi chèo
Bến …
Nheo mắt trưa
Lòng mây.
(Trưa Bidong, tr. 43)
Chỉ một mùi hương nếp cũ, kéo cái tứ xứ về với dốc nhà. Tiếng chèo khua sông lạ kéo về bến quê. Dường như từ xưa đến nay, mây là nơi tìm đến và gửi gắm nỗi nhớ nhà, một lòng mây mang trong nó cả một cội nắng ngọt bùi xưa. Tôi cũng muốn nhắc đến những chữ cội trong thơ Khế Iêm, nó là gốc. Chẳng hạn, Cội thề, một gốc rễ của ước hẹn tìm về, một cội cho yêu thương, tình tự nhân bản trổ hoa.
Lênh đênh biển biếc một chiều
Quanh thôn sóng rộng dập dìu khói xây
Mây trôi chở cội nắng đầy
Lỡ thân tan nhạt làm rầy nước non
(Non Nước, tr. 74)
Chữ Lỡ nói lên một bất khả kháng, Lỡ thân tan nhạt cho đến cả những thân trăm nẻo, một phân thân của mưa bốc ngược, của tiếng hú làm tịch liêu cả không gian.
Hú lên, thinh lặng nhánh cành
Thấy mưa bốc ngược bên thành, chốn hoa
Động mùa, khỏa cánh bay ra
Những thân trăm nẻo về qua, phố người
(Phố Người, tr. 75)
Giữa tiếng thương lạnh, khói ngất ngưởng
Thoảng một chiều thơm trong khói xa
Xô ngang gió chiếc, cắn hơi hướm
Yêu dấu qua đời, ta bao la
(Một Mình, tr. 22)
Giữa tiếng thương và khói, là ẩn hiện chiều, là cắn hơi hướm gió xưa. 15 • Tân Hình Thức
Và – Yêu dấu qua đời, ta bao la – cái bao la của một mình, khi bao yêu dấu đã phiêu bạt, hay cái bao la bởi có yêu dấu lấp đầy? Nghe buồn mà thanh thoát.
Hoa trôi, hoài giang đầu
Mơ mơ thôn làng dâu
Hắt hiu, dấu du sĩ
Mênh mông môi, rượu sầu.
(Rượu Sầu, tr. 80)
Rượu sầu và giang đầu, có làm nguôi ngoai được hoa trôi và mênh mông môi? Mang cả một thôn làng trên dặm dài du sĩ, làm tôi nhớ những bước phiêu lãng đầy tình tự quê nhà của Basho.
Lây lất những
Mùa đồi
Thôi thơm môi
(Không có nụ hoa nào
nở trong khuya mơ
Mà tiếng ngày thoáng thở)
Khát xanh hoang phố úa …
(Mắt Cũ, tr. 49)
Nơi gác vắng tiếng trăng nhạt
Cô độc gọi
Hiểm hóc nhớ
Lăn lóc cười mắt thâm quầng trôi …
(Góc Trọ, tr. 52)
Đã gãy dập tiếng hót lãnh lót
Cháy tàn môi
Lửa bếp
Đò ngang …
(Chái xưa, tr. 84)
Mắt ứa, khóe xưa lệ
Lênh đênh quên mùa quê
Ánh lòng men ly biệt
Môi hôn run, cội thề
(Cội Thề trang, tr. 59)
Một phố úa khát xanh. Một gác vắng trăng nhạt. Một cô độc gọi. Một hiểm hóc nhớ. Tất cả, đọng lại ngẩn ngơ trong lây lất, lăn lóc, lênh đênh quên nhớ. Mắt môi giờ chỉ còn là công cụ của nhớ.
– Lăn lóc cười mắt thâm quầng trôi … một câu thơ tượng trưng đặc sắc, mắt thâm quầng, không nhìn, mà, trôi. Cùng với cái cười lăn lóc, hình tượng và tình tự xoắn xuýt nhau nổi bật cái tự trào cô đơn.
Thơ • 16 – Và, môi hôn run, dẫn đến ánh sáng, cội thề. Một chuyển hướng tâm tư về sâu hơn với tâm. Với hình ảnh này, ta hiểu rõ hơn niềm tin cậy vào cội rễ Tình Người nơi tâm trạng nhà thơ, một cội rễ lưu giữ và mọc lên những nối kết cùng hóa giải.
Ý niệm về tình người, về triết lý nhân sinh, về phản ảnh hiện thực xã hội, biểu hiện rất rõ trong bài thơ Xẩm Ca, Ông không kể nỗi niềm mà để nó tan theo cảm giác cô liêu, xa vắng tâm linh. Chính vì thế mà nó thúc đẩy hành trình – tìm về – của nhà thơ, một cách quyết liệt hơn.
Tiếng thơ và suy tưởng ấy là tiếng hát xẩm giữa chợ đời để rao truyền những tình tự nhân bản. Và đây là bài thơ trữ tình nhất trong tập thơ này theo tôi.
Qua mái hiên chiều, khói tranh tối
Quên, bãi dâu
Chèo, lênh đênh trôi
Ta áo manh hè phố giá buốt
Tro đãi bôi hồ nghi trên môi
(Xẩm Ca, tr. 51)
Quên, đặt đầu câu như một vết chém, cắt mảnh của: mái hiên chiều, khói tranh tối, bãi dâu Chèo … thành, áo manh hè phố giá buốt, với cả niềm tin cũng thành Tro đãi bôi hồ nghi, mà, hành trình nào không có hồ nghi làm tiền đề cho những tháo gỡ?
Ta cải trang về cõi lá úa
Run mãi run thầm, trăng sông xanh
Nghe thản nhiên bờ bến khốn nỗi
Trông dõi khêu
Lửa mùa
Cũng đành
(Xẩm Ca, tr. 51)
Tại sao phải cải trang để quay về? Cõi lá úa có phải cũng là cõi áo giấy? Và bờ bến kia thì thản nhiên, vô can. Có ai biết được trong tâm thức sâu thẳm kia, nỗi run rẩy gìn giữ một bản thể nguyên sơ – trăng sông xanh – ?
Ta thổi tắt tàn bấc hư hoặc
Nghe xẩm ca ngoài thinh không, mơ.
(Xẩm Ca, tr. 51)
Tiếng hát người mù là âm vọng thiết tha của tâm thức. Có buồn bã chăng khi bến neo là, mơ, đứng chơ vơ một mình, sau khi qua những hành trình vội vàng, quát tháo, sừng sộ, háo hức, ngơ ngác, – Mơ – . Vừa nghi hoặc vừa mơ mộng. Vừa mở ra vô hạn.
Ta lơ láo từ cội nguồn hoang phế
Và thấy đời thấp thoáng trong sông sâu
(Ưu Sầu, tr. 106)
Ném cội nguồn dưới ngàn / … Thở một tiếng, lòng tan … Nếu hiểu cội rễ, cội nguồn là trí tuệ và từ bi của tình người thì ta hiểu hơn những Phải Sống để không là lơ láo, là chối bỏ, là vùi lấp của sông sâu.
17 • Tân Hình Thức Chết giữa rạng đông
Chạy rông bãi mộng
Mặt trời rất rộng
Như bông mênh mông
Lấy mùa xuân không
Vùi trong hoe nắng
Gánh về đằng đẳng
Một vai viễn vông
(Chết, tr. 14)
Rạng đông là khởi đầu. Nhưng Chết, có phải là ẩn dụ triết lý hiện sinh – con người luôn thường trực đối diện với sự hữu hạn và ý nghĩa của sự tồn tại –? Mộng chẳng phải là đất hứa, nó là một bãi vô định của chạy rông. Mặt trời và mùa xuân không còn là biểu tượng của bắt đầu và hy vọng nữa, nó bị rỗng hóa, như con người sống chỉ còn trơ những điều không thực, nói vậy để thấy cái tâm trạng hoang mang tận cùng của tan rã và phi lý. Hiểu một cách nữa, hai câu cuối như thể một tự hỏi, ta có còn khả năng làm cho cuộc sống này có ý nghĩa không?
Và chúng ta bị ném vào một nơi chốn hiện sinh:
Ta ngây dại đến vô cùng thảng thốt
Khi sinh ra trên mặt đất đầy ưu sầu
Một bể sầu xô dạt dưới chân non
Một mảnh chiều phiêu dạt giữa mây rong
(Thanh Xuân, Tr. 87-88)
Như vậy, kiếp sống con người chỉ là lặp đi lặp lại những điều vô nghĩa, kiếp người xô – dạt – phiêu – dạt giữa mây rong, có khác nào bước chân miệt mài tới–lui khuân đá lên núi của anh chàng Sisyphus, nói về cái phi lý, vô nghĩa của cuộc sống, nhưng vẫn chấp nhận nó để tìm một nghĩa tối thiểu nhất của hạnh phúc.
Và đây là tin báo. Tin báo của kẻ đứng trong cõi đời và cõi người.
Những người đưa ta từ bao đời trước đến
Những người chôn ta từ bao đời sau về
Âm binh …
Cơn gió nào thổi tan lời nguyện
Con sói về ăn những mảnh trăng
Bên cõi người một hồn nắng tuyệt
Có tiếng cười ở giữa lòng chăng?
Tin báo rằng mặt trời đã tận
Trái đất là một thoáng lửa trôi
Một mùi hương của trần gian hóa
Đã cuốn theo một lũ ma rồi
(Tin Báo, tr. 16)
Thơ • 18 Cực kỳ ám ảnh. Quá khứ sinh ra ta, tương lai đã chôn sẵn ta. Ta ở giữa hai cõi không thuộc về mình, một hiện tại âm binh. Người tiền kiếp, cả kiếp mai sau và cả kiếp này hội ngộ trong phi thời gian? Mỗi kiếp đem về một thực tại của mình để làm mưa gió phận người. Con gió quỷ vô hiệu hóa lời nguyện. Con sói ăn trăng, là cái ác thể hiện quyền sinh sát đối với cái thiện, và trong không khí của nắng tuyệt, lửa trôi đó có một chút ánh sáng của người, Có tiếng cười ở giữa lòng chăng, như một cảnh tỉnh giữa thời hôn ám, nơi thân xác sống mà như đang bị chôn hờ, giữa những phá sản, thân thế tan tành, tuổi tác như đồng nát.
Không biết những va chạm nào trong tâm thức và ngoại cảnh đã khiến Khế Iêm đi tới những hình ảnh hiu quạnh như thế, và được chở bằng những câu thơ xuất thần đầy hạo khí và cô đơn (Ôi thôi, ném quách thân vào đất/ ta gõ trầm luân quanh chái xưa… chưa bao giờ điêu linh là mộng … ta uống nhầm rượu hay cơn sầu bi …) những câu thơ, hẳn sẽ lưu dấu rất lâu trong tâm người đọc.
Rờ rẫm chiều xanh ngỡ đá xanh
Chưa hay thân thế đã tan tành
Mây trôi từ kiếp, ngàn hiu quạnh
Bước vội qua mùa, hoa sang canh
(Thoáng Say, tr. 76)
Từ thuở tuổi tác như đồng nát
Sương khói xây thành trăng mộ bia
Ta uống say khướt nước quẫn bách
Theo gió ra ngoài biên giới kia
Bóng núi xanh ngu bước ngây ngất
Đi về giây khắc như ma đưa
Ôi thôi ném quách thân vào đất
Ta gõ
Trầm luân quanh chái xưa
(Chái Xưa, tr. 84)
Đã nuốt chửng váng ngày xao xác
Đã đìu hiu từ dạo bước chân lên
Những bát ngát của chiều ánh khao khát
Những rừng câm vời vợi, tro lênh đênh
(Tàn Đông, tr. 44)
Mở mắt
Nhấp nháy nghi, hồn nhiên
Rơi trên thềm, ruộng đồng chảy mật
Chưa bao giờ nước và đất thành bùn
Chưa bao giờ điêu linh là mộng
Ta khởi từ đời có thật
Chạy đi rồi về gió tất tưởi
Chiều xa chôn hờ thây ngoài non
Đợi nhau từng giờ bướm thổn thức
(Tự Ca, tr. 48)
19 • Tân Hình Thức Đã hết những thời hoa nguyệt thẹn
Đã tan chưa khóe mắt buồn xưa
Nhấp môi. Nước chảy trăm dòng nắng
Có thật ngày quanh, bước cỏ thưa
(Cõi Vạn Chiều, tr. 69)
Có thật
Những đồng trăng cội dâu
Bến quên. Sông ngất mộng non đầu
… …
Có đấy
Ta về, quanh quán trọ
Mái ngang, mưa đắm một con đò
Chiếu mơ mắt đẫm khôn cùng, nhỏ
Và tiếng hồn run rong nước, khô
(Thoáng Say, tr. 76)
Bồi hồi những trái tim đồi xa
Dập vùi chút dĩ vãng chập chững
Bình nguyên thản nhiên trong lòng ta
Lần theo ngàn sương, bẫy ương ngạnh
Thở đi, bao la thay hừng đông
Thổi ra những thương tích bầm vập
Gõ ran những chảo đời có thật
Nghe ầm vang sóng rời đầu nguồn
Đã chở tro về chôn bến nhớ
Đã ngờ trong một thoáng từ ly
Là mở ngỏ ý tình, bỡ ngỡ
Ta uống nhầm rượu hay, cơn sầu bi
(Nhánh Sầu, tr. 36)
Ta mở ngỏ trái tim
Những mối tình nương dở
Đóa hoa khóc
(Chim chóc chẳng bao giờ còn cất tiếng hót
Hay cứ cất tiếng hót
Hãy trồng lại giấc mơ, chứ em?)
(Góc Trọ, tr. 53)
Câu hỏi, cũng là một quyết định, như một cái neo, để con người biết rằng mình có khả năng hạnh phúc trong những phi nghĩa của cuộc sống. Còn giấc mơ, còn hy vọng, còn một hướng để trông về. Những câu thơ nói lên cái khổ chung của kiếp người, và vì thế, nó chan chứa tình người, trong mở ngỏ trái tim … trồng lại giấc mơ …
Thơ • 20 NGÔN NGỮ THANH XUÂN
Có phải khi cảm xúc chuyển thành lời là nguyên nghĩa của nó đã vô cùng biến đổi, nhất là khi trực cảm bọc trong khái niệm của ngôn ngữ? Thực tế điều này chỉ người làm thơ mới thấu cảm được hiệu quả, cùng sự bất lực của lời đối với ý tưởng và cảm xúc của mình, sự tích lũy kinh nghiệm ấy khiến dặm trường của ngôn ngữ thơ là cuộc thể nghiệm chữ không ngừng. Ngôn ngữ thơ Khế Iêm là một hành trình theo đuổi, tìm tòi, và hoài vọng kéo nó về trong ngôi nhà suy tưởng của Thơ Ca.
Dặm trường ấy, khởi thủy, nơi thảng thốt cội rễ lời:
Thảng thốt
Cội rễ lời
Ta nghe dâu ngàn hóa bụi
Vô ngôn tự thuở nằm nôi
Có không chăng đời quỉ mị
Sao khuê vụt tắt đồi non
(Phiêu Khúc, Tr. 67)
Đã gãy dập tiếng hót lảnh lót
Cháy tàn môi
Lửa bếp
Đò ngang
Thổi tăm tắp hoài giấc thảng thốt
Trong sâu, ru hồi kinh hỗn mang …
(Chái Xưa, tr. 84)
Như hoàng hôn chảy, tiếng khoan nhặt
Như thời gian đắm trên môi hôn
Nơi cõi sắc mầm gió căn cắt
Len lén nghe lời, mênh mông non
Về thôi, hẳn mộng đồng xanh
Đã tan chưa hạt nước quanh mắt ngàn
Thuở lời, vọng tiếng chim ran
Đò quê, mật sóng giữa đàng lá không
(Lá Không, tr. 72)
Ta để ngỏ, ao chuôm và áo ngực
Thấy bay ra một cánh thinh không
Nói ấp úng
Buổi đồi nhật thực
Vẫy gọi ta về, sương tàn đông
(Tàn Đông, tr. 44)
… Áo lam tốc ngược bên đồi, hú
Im bặt lời trong khuya, bỗng đâu
(Thoáng Say, tr. 76)
21 • Tân Hình Thức Và, Hành trình truy đuổi:
Ta
Ngổn ngang hoài mắt ứa xưa ôi
hốc hác lời
(Mắt Cũ, tr. 49)
Dừng lại con quay quẻ may rủi
Dắt tay bước qua cầu nước mắt
Thở dài
Cười
Tiếng hùng hổ
Nhè nhẹ rừng lời buông bông lơn …
(Tự Ca, tr. 48)
Ta đánh mất tiếng người
Chìm nổi
Ôi bước chân xanh
Thổi tròn mầm gió nhú
Ngồi đợi hoài khói tro mãn du
Xây xẩm chiều
Chôn cánh độc
Lòng lơ đãng biếc
(Vô Đề, tr. 19)
Nhè nhẹ, gieo bóng sương
Với tay tới vô thường
Quê mưa, lẻ tiếng nhạn
Líu lo lời mán mường
(Mán Mường, tr. 38)
Người mất tiếng nói, nhạn lẻ bầy mất tiếng hót, cả hai chỉ còn lời mán mường giữa những chẩy trôi, tất bật, buông trôi theo quẻ bói, con xúc xắc. Ta bắt gặp nhiều ẩn dụ của tình cờ và siêu hình trong những đoạn thơ sau, để giải tỏa cho những mâu thuẫn nghịch lý nội tại chăng?
Ta buồn thay đi rong và đếm được
Một ít nhiều sóng nhỏ vỗ lăng xăng
Bèn xừng xộ với khoảng trời lơ đãng …
(Ưu Sầu, tr. 102)
Tôi ngồi lại phân bua cùng nước cuốn
Một bể hồn mù mịt khi sương rơi
Trong hiu hắt đời tan như bóng xế
Có rất nhiều bèo dạt lẫn hoa trôi
(Ưu Sầu, tr. 99)
Thơ • 22 Ném mũi lao vào thinh không
Để nghe mùa đông đập cánh thở
Gieo quẻ bói
Tình yêu chói chan
Mặt trời hom hem trên môi ta
Chiếc ghế nói bằng ngôn ngữ điếc
Thuở hạt thóc nẩy mầm trong bọt mây
Ta thẩy đời theo con xúc xắc
(Góc Trọ, tr. 52)
Với ngày, tiếng nói là miểng nhọn
Đập vỡ những chiều xanh tóc gai
Với thời, bao nỗi mắt ẩm ướt
Ôi chăng, chảy trôi nước tất bật
(Nhánh Sầu, tr. 36)
Ngây ngất mưa lời như chôn sâu
Tiếng chim khóc, ẩn lánh biệt xứ
Đã tím hơi chờ bao thiên thâu
Trong giấc ma muội gió bất ổn
Đang réo tên ngàn sao ban sơ
(Xẩm Ca, tr. 51)
Từ khởi thủy rồi truy đuổi, những thảng thốt, len lén, ngổn ngang, thở dài, hùng hổ, bông lơn, lơ đãng biếc, quát tháo, xừng sộ, phân bua, ném lao (ta?) vào hư không, đập vỡ chiều thành muôn gai tóc, và với ngôn ngữ điếc là thái độ thúc thủ, là những va chạm giữa nghi hoặc lẫn niềm tin vào ảo hóa của ngôn ngữ. Và càng thảng thốt va chạm càng bật ra chứng ngộ.
Thứ – mưa lời – chôn sâu – sẽ tìm lại được ý nghĩa của nó khi tàn bấc của vô minh lụi tàn. Và hành trình ngôn ngữ của Khế Iêm là đặt nó vào vị trí nơi ngàn sao ban sơ, nơi những ẩn dụ mời gọi, nơi bừng tỉnh Nghe ầm vang sóng rời đầu nguồn – để ngôn ngữ tái sinh,
Và Thanh Xuân là ngôi nhà thơ trong đó các yếu tố làm nên thơ: chủ thể, lời, ý gặp nhau tài tình qua sự dẫn truyền của cảm xúc. Đây là tình huống trắc trở nhất trong sáng tạo, Và nhà thơ Khế Iêm đã cho thấy bản lĩnh xử dụng ngôn ngữ với thứ khí giới thanh tân của chữ, ý và hình ảnh. Một thi phẩm cách đây hơn năm mươi năm, mà phong khí* đó vẫn là của hôm nay. Cho nên tôi nói, ngôn ngữ thơ của Khế Iêm không có thời gian.
NHỮNG KHOẢNG LẶNG CỦA MẬT NGÔN
Trong giây lâu đã đến bờ hư sinh
Giây lâu là bao nhiêu trong dòng thời gian?
Giây lâu, một nghịch lý thời gian rất đẹp – Một khoảnh khắc hơi thở dài một đời người – như Phật đã nói, Khế Iêm đang nhìn thấy sự phù du cùng đạo lý đất trời. Nhưng, Bờ hư sinh có phải là ánh sáng hò hẹn của giải thoát? Bởi nếu hiểu đó là nơi trống không thì có phải là một
23 • Tân Hình Thức trống không rốt ráo như Thiền học nói không, và nếu hiểu đó là bờ bến kiếp hư ảo, thì hai cõi của ngoảnh đi ngoảnh lại ấy có gì khác? Ở câu thơ này vừa có vẻ yếm thế vừa có vẻ thản nhiên không cưỡng cầu của kẻ học đạo.
Đứng không hớp một chén mây
Nằm trong thiên cổ có hay ta về
Hỏi thăm cây cối nín khe
Một chòi gió đựng mấy the nắng sầu
Lặng thinh hít bụi mơ hồ
Trong giây lâu đã đến bờ hư sinh
Thả thuyền vớt ánh bình minh
Ghé qua vô tận lấy bình tang thương
…
Thôi về vớt mảnh trăng non
Rồi ra giũ áo hỏi hòn sơn xưa
Nói gì nữa giữa vườn thưa
Mênh mông trời đất riêng thừa có ta
Lòng buồn nhặt cánh hoa rơi
Nghe trong nắng quái có lời kêu than
Tần ngần ngó đám mây tan
Thênh thang trên bãi sông hàn bao la
(Chuyển Mộng, tr 31- 33)
Tôi có cảm giác như lọt vào một không gian vừa siêu hình vừa rất trần thế.
Và mơ hồ hết biên giới của không-thời gian, chủ thể thì – vừa – về từ thiên cổ, và trên đường về, quay quả với ám ảnh của quá khứ để làm như vô thức: vớt ánh bình minh, mảnh trăng non, bình tang thương, bây nhiêu hành trang ấy, đem về giữa vườn thưa, làm chi vậy? “vườn thưa” ở đây có phải là “bờ hư sinh” ở trên, và tất cả đều vô hiệu hóa? Cái ta là cái dư thừa nhất trong trời đất, và chấp nhận, trạng thái thuộc suy tư triết học hơn là phản ứng tình cảm.
– Mênh mông trời đất riêng thừa có ta, cũng là một cái thấy, về cái ta của bao nhiêu duyên sinh trong quan niệm Phật học.
Đứng sững nhìn trời đất, suồng sã
Gây gây đồng sương như dao mưa
Thở nhẹ, tất tưởi những rộn rã
Quay về thân ngã, gai thâm u
…
Đôi mắt sao cay, bóng xúc sắc
Ta thầm bật nhớ môi hoang liêu
Chia hai bãi quán trăm dòng lũ
Múc mấy gàu mây, soi hắt hiu Thơ • 24
Ta hát cuồng lưu, đắng phiền nhiễu
Men say đã dậy ngoài sân ngày
Nhai câm một nhánh, dây thần bí
Và chở ra ngàn sông, rủi may.
(Một Mình, tr. 22)
Đứng sững nhìn, một trạng thái của ngạc nhiên và thất vọng, Bước lại từ đâu trước cái suồng sã đất trời, vòng xoay của cuồng lưu nghiệp lực dao mưa, gai thâm u? Lại càng không tin rằng có những ngẫu nhiên của con xúc sắc chỉ đường. Cuồng lưu nhân quả đẩy hữu thể khỏi mọi kiểm soát: nhìn, thở, quay về, nhớ, hát, nhai, trong nạn kiếp vô minh. Có chăng, một dòng chảy thần bí kéo ta lên với gàu mây, và múc gàu mây có phải là nỗ lực gieo một hạt mầm của buông bỏ? Ta có thể Bước lại từ đầu trong cái phó thác chở ra ngàn sông, rủi may? Đó là điều tôi áy náy, và vẫn đeo nặng dấu hỏi, về luân hồi với những tất tưởi, những rộn rã, làm sao để thoát được cuồng lưu của nghiệp? Và ở đâu, không đi ra ngoài vận hành của duyên nợ, nhân quả.
Cứ thở
Lúc giây đời bất động
Và thả trôi vào bờ gió khoang ao
Trong phút chốc những đầm thương nỗi nhớ
Cũng hòa tan vào mộ đất nương sao
Ta nhẩm giọng, bước ngàn lẩy bẩy
Mắt tung mây, hồn rộng. Chau mày
Theo mạn sóng, bèo dâu, bọt nước
Xua bầy chim tan tác. Bến muôn sau
Cứ trổi dậy nghe thầm tiếng gọi
Giữa dòng sông chia nhánh. Cõi đêm rơi
Rong ruổi mãi, giấc ngoài hiu quạnh
Hư hư về, mộng những chưa vơi
Cứ mở
Lấy trái ngày gieo lại
Bên thềm non độ nắng lung lay
Và hái vội thóc nầm, rơm rạ
Đem phơi thành tro khói ta vay
(Vay, tr. 21)
Chữ “cứ” lặp lại nhiều lần trong bài, Cứ thở, Cứ trỗi dậy, Cứ mở lấy, không phải quyết tâm, mà là bất khả kháng của sự sống, không phải ngẫu nhiên ta thấy đoạn cuối một tiến trình: gieo – mở – hái – phơi – tro khói, như một vận hành của nhân duyên.
Con người vay chính sự có mặt của mình trong đời. Như Phật pháp dạy, đâu có tôi độc lập. Sống đã là vay. Hiện hữu đã là nợ. Đó là một cách nói thơ cho chân lý: vô tự tính.
Vay trả ngàn kiếp muôn biến đổi /Ta ca thiêm thiếp quê mùa thơm. Quê mùa thơm, có phải đã nương náu vào – tâm-ban-sơ chăng?
25 • Tân Hình Thức Chờ đợi
Mất hút
Lặng lẽ
Lá rơi trong khoảnh khắc
Ẩn mật
Mộng gõ tăm tối mắt rộn rã
Thoảng đưa hương ngâu thôn đời xa
Thõng tay giữa chợ
Gió háo hức
Mang máng nhớ đất trời chật chội
Vội vã
Quát tháo
Lửa dìu dặt
Chõng tre ngơ ngác ngó quanh quất
(Cứ khuấy mãi bùn ao đục
Chẳng hiểu lòng như một chốn mơ)
(Tắt, tr. 17)
Cũng có thể từ ẩn mật của tiếng lá rơi, của hương ngâu thôn đời mà người tìm ra khoảnh khắc mầu nhiệm lòng như một chốn mơ – đưa thân tâm đoàn tụ?
Cái cảm xúc trọn vẹn của thân xác và tinh thần hòa quyện để đưa về tinh túy nhất cho tâm hồn, và suy tưởng:
Gánh về
một quải nắng trong
Chiều ra
hít thở
cho lòng trống trơn
Thoảng đâu
có một tiếng đờn
Nghe qua ngờ ngợ
cái hờn
thâm u
Ngoài trăng gió bãi
thổi vù
Thấy ma trên núi
ngồi tu
quặn lời
Kinh xưa một lá
tờ rơi
Trăm năm hỏi giấc
mộng người
có không.
(Nghe Đàn, Tr. 46 – 47)
Thơ • 26 Không giải thích. Không kể chuyện, không vòng vo, trực tiếp từ hành động vật lý gánh về, hít thở đưa đến tâm cảm thấy trống trơn. Một khoảng trống để Nghe đâu là một ngẫu nhiên, Thâm u làm cho tiếng đàn như tiếng vọng từ tầng sâu tâm thức. Và lá kinh rơi, hốt nhiên không còn cần phải hỏi trăm năm giấc mộng người có không, nữa. Một bài thơ đầy Thiền vị ở chỗ ta được hiểu rằng, thân tâm cùng về một mối trong tĩnh lặng.
Và đầy Phật vị, không còn hoài nghi về có không của vạn pháp.
Riêng tôi, tôi rất thích khẩu khí thường lạc ở những bài thơ Rơi hồn nhiên cùng mơ, thong dong …
Một cuống mắt non
Khơi sầu thiên cổ
Một chút duyên con
Nằm trong loang lổ
Không mất không còn
Hồn thu rất nhỏ.
(Rất Nhỏ, tr.13)
Tất cả tang thương của cõi cát bụi gói trọn trong bốn câu lục bát này, bạn có thấy Thời Gian ở đây khựng lại với chính hậu quả của mình?
An nhiên, cát bụi lên đồng
Gác khuya hắng gọi thuyền sông, bến bờ
Dội ngoài dâu bãi, rung tơ
Bóng câu đứt mạch nằm trơ, vó sầu.
(Vó Sầu, tr. 73)
Chống gậy trông đồi hoa
Hỏi thăm về quê nhà
Áng mây màu cước bạc
Cảnh trời muôn dặm xa
(Mong, tr. 11)
Như thể khoảnh khắc của huyên náo
Trôi ngoài ngọn nguồn, thân như sương
Ta về xuân khóc bên thềm cửa
Đã biệt lâu rồi. Không cố hương
(Cõi Vạn Chiều, tr. 69)
Một tâm thái buồn tự tại. Chống gậy trông đồi hoa / hỏi thăm về quê nhà, và màu cước của mây, muôn dặm của cảnh trời là hành trình đưa người về – quê tâm – Người sẽ đến và sẽ gặp, vì huyên náo đã bỏ lại đằng sau, vì thân đã nhẹ gánh, nghe như người đang đưa tay lên cánh cửa Tâm, thầm thì, Đã biệt lâu rồi. Không cố hương.
Ngôn ngữ vẫn trải mình trên đường quán chiếu của nhà thơ, trong niềm tịch lặng của hành giả, trong vô thường của Phật pháp, trong thong dong của Lão Tử. Phải chăng đó là những bước vượt, trên chặng đường tìm về mình?
27 • Tân Hình Thức Thong dong về non xanh
Ngày hư hơi gió lành
Quán không lòng mong tưởng
Một chòm mây mai danh
(Gửi Lão Tử, tr. 12)
Em không thấy rằng ta là tro bụi
Và sinh ra từ một ánh trăng suông
Cùng bể rộng
Dâu xanh
Thác ngàn
Cỏ nội
(Thanh Xuân, Tr. 89-90)
Hữu thể chan hòa vào dòng chảy của thiên nhiên, cái nền Không của nguồn gốc của vũ trụ và nhân sinh này ít nhiều ảnh hưởng Lão Tử,
Mắt khơi, giếng nước ngọc
Rong chơi, lên đồi trong
Cởi ra áo, trăng mọc
Lăm le một lệ dòng.
(Lệ, tr. 39)
Lăm le là việc chưa làm, dọa làm, nếu thấy không ổn thì không làm, đúng không, thì cứ thản nhiên với rong chơi đồi trong, cởi áo với trăng, không cưỡng cầu, không tham muốn, thanh tịnh với trăng non, mời Lão Tử một hớp giếng ngọc kia rồi cùng nhau nói chuyện ban sơ,
Ta nhẹ nhàng rảo bước vào ban sơ
Ta nhẹ nhàng khép lại cánh hoang sơ
Và rất sợ khi ngồi coi lá úa
(Thanh Xuân, tr. 91)
Trên kia người thơ đã nói Ta cải trang về cõi lá úa / Run mãi run thầm, trăng sông xanh. Dường như, cải trang giờ đây là niềm hân hoan của bao sự buông bỏ, một đời quanh quẩn, vẫn còn trăng sông xanh như ngón tay chỉ đường, để nhẹ nhàng rảo bước vào ban sơ … để tái sinh lễ hội thơ dại nơi lòng ta:
Ôi trái đất vui như mùa lễ hội
Thuở ấu nhi màu nhiệm trút bên ngàn
Và huyên náo của ngày xanh diễm tuyệt
Ta huy hoàng hết thở giữa trần gian
(Ưu Sầu, tr. 110)
Thơ • 28 Ta hấp hối vì vô minh lấp ló
Ngót một đời quanh quẩn trong hang sâu
Và thắp sáng hồn ta bằng ảo vọng
Chút tro tàn cũng đủ làm hân hoan
Chút nắng nhạt cũng đủ làm mê mẩn
Vì chao ôi
Một nhúm sống nhiệm màu
(Thanh Xuân, tr. 94)
Chỉ còn tâm trắng trong. Vì chao ôi / Một nhúm sống nhiệm màu … Và huyên náo của ngày xanh diễm tuyệt … Như thể đang ôm cuộc đời, trong tiếng Chao ôi đầy khinh khoái.
Có ta long lanh tựa giọt lệ
Rơi hồn nhiên cùng mơ, thong dong
…
Ô hay tóc gió chưa là khói
Để mở lòng ra cõi vạn chiều.
(Cõi Vạn Chiều, tr. 69)
Người và thiên nhiên giờ đã là một, cái một của vô cùng bao la. Cái tràn đầy của trống không. Cái động phản chiếu tĩnh. Thở một tiếng, lòng tan …
Thơ Khế Iêm là hành trình của suy niệm, quán chiếu, và ngôn ngữ của ông tận cùng, được hiểu sau âm vang của tịch lặng. Đó là âm ba của ban sơ, gõ vào tâm trí ta những cảm thức vi diệu của mật ngôn.
Nhà thơ đứng trước cánh cửa của Đến nhưng Nhà Thơ chưa đi tiếp. Nhà Thơ dừng lại để làm nốt những điều chưa trọn. Khoảnh khắc dừng đó là Thơ.
Dường như tất cả thi sĩ trên cõi tạm trần gian này đều nấn ná lâu hơn trên dòng quán chiếu trước khi mở cửa, và đó là ân phước của Thi Ca.
________________________________________
NTKM
Upland, Tháng 1, 2026
* chữ của nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc
