Tết năm nay tôi mặc áo mũ truyền thống để cúng tổ tiên trong ba ngày Tết. Nhân dịp này người bạn có gởi cho tôi bài viết của Nguyễn Việt An về Quốc phục VN. Xin chia sẻ cùng quý độc giả trong ngày Tết. Chúc quý vị năm mới 2026 An Khang Thịnh vượng.
Ngày Tết Nói Chuyện Khăn Áo
Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có cách ăn mặc riêng, gọi chung là “Quốc Phục”!
Người Tầu, người Nhật, người Ấn, Đại Hàn hay người Việt v.v… đều có “Quốc-Phục”. Nhưng, với thời văn minh, khoa học, đa số đã xa lần quốc phục để theo sự tiện lợi của văn minh Tây Phương là bộ Âu Phục! Duy chỉ có người Ấn là ở bất cứ đâu họ cũng mặc bộ Quốc Phục.
Hội nghị thượng đỉnh APEC 2001 tại Thượng Hải, chủ tịch Trung Cộng Giang Trạch Dân đã tặng mỗi vị nguyên thủ quốc gia dự họp một áo gấm Thượng Hải, may theo kiểu Tầu. 21 vị mặc áo xanh đỏ kiểu Tầu đứng xếp hàng ngang dưới lá cờ đỏ với năm ngôi sao vàng, làm cho người xem có cảm tưởng như là các đại diện chư hầu về triều cống Thiên Triều hồi thuở nào xa xưa. Trong đó có chư hầu liên bang Nga là TT Vladimir Putin, chư hầu Mỹ là TT George W. Bush… Quả người Tầu họ Giang “Thâm” thật! Nhưng tương lai có như ý muốn của chủ tịch Trung Cộng hay không là truyện khác!
Nhân ngày Tết, người viết xin nhắc tới “Quốc Phục” của người mình để bà con ta nhớ tới, nhớ về… Lâu nay có nhớ chỉ nhớ chiếc áo dài của các bà, các cô mặc trong những buổi trình diễn thời trang. Còn cái khăn, cái áo của quý ông thì sao?
Hồi còn nhỏ, vào đầu thế kỷ trước (20), mỗi lần Tết đến thì mọi gia đình lo dọn dẹp, sơn phết lại nhà cửa, chuẩn bị làm những món ăn ngày Tết và còn việc quan trọng khác là may hay mua quần áo mới cho người trong nhà. Nhà khá giả thì tơ lụa, nhung gấm, người trung lưu thì lương, the và nghèo hèn thì nâu xồng đạm bạc.
Khi đêm trừ tịch tới vào lúc giờ Hợi bắt đầu, là ông bà cha mẹ đã khăn áo chỉnh tề để sắp sửa làm lễ Giao Thừa. Ngay cả những đứa nhỏ như người viết hồi đó cũng xúng xính trong cái áo lương đen, cái quần trúc bâu trắng mới và đội khăn chữ nhân trên đầu còn thơm mùi băng phiến, để theo cha mẹ vào làm lễ trước bàn thờ gia tiên.
Các Cụ ngày trước đều là người xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, nên luôn nhắc nhở con cháu cố gìn giữ những truyền thống cao đẹp của tổ tiên để lại.
Sau khi cúng giao thừa xong, những tiếng pháo đì đùng nửa khuya đã dứt, chúng tôi theo anh Cả vào chúc thọ cha mẹ và nhận tiền mừng tuổi, rồi đứng chung quanh, vòng tay nghe cha tôi nói về ý nghĩa của chiếc khăn, cái áo!
Khăn áo ở đây người viết ghi lại là bộ Quốc Phục của người đàn ông.
Bộ Quốc Phục của người nam gồm trên đầu chụp cái khăn chữ Nhất hay chữ Nhân, trên người mặc áo dài năm thân, với khuy cúc cài bên Tả, (Tả nhậm), dưới mặc quần mầu trắng. Đi vào chi tiết thì bộ “Quốc Phục” Việt có một ý nghĩa cao cả, là biểu tượng cho người Việt.
Khăn
đội đầu là khăn chữ Nhất hay khăn chữ Nhân
Từ hồi xa xưa người mình ai ai cũng đội khăn. Từ vua quan tới hàng dân dả, khi ra ngoài là đội khăn, ít ai để đầu trần. Vua thì khăn mầu vàng, còn quan và dân thì khăn đen. Thông thường khăn là một mảnh nhiễu, lụa hay vải đen, quấn lên đầu nhiều vòng, nhiều nếp làm khăn. Nhưng, ngay giữa trán phải quấn thế nào cho rõ là chữ Nhất, hay chữ Nhân. Sau này, để tiện lợi đỡ mất thì giờ, người ta đã nghĩ ra làm cái khăn nhiều nếp, rồi khâu hay dán lại với nhau. Khi muốn đội chỉ việc chụp lên đầu là xong. Nên có tên là “khăn chụp” hay “khăn xếp”. Khăn chụp mầu đen, nhưng người có tang thì chụp khăn mầu trắng. Con cái có đại tang cha mẹ thì dùng một miếng vải trắng thắt ngang khăn, với hai đuôi dài độ gang tay ở sau gáy. Nhưng, thế nào đi nữa vẫn phải có hình tượng chữ “Nhất” hay chữ “Nhân” trước trán.
Tại sao lại phải có chữ Nhất hay chữ Nhân trước trán?
Theo sách huân Ngữ, Thiên thứ Tư, Đức Khổng Phu Tử nói:
Tử viết: Ngô Đạo nhất dĩ quán chi
Nghĩa là cái Đạo của ta có một mà bao trùm tất cả! (Chữ quán có nghĩa là bao trùm, xuyên suốt, chi phối dù lớn hay nhỏ cũng gồm trong Đạo).
Trước đây, ông bà ta theo học chữ Nho, nên Tứ Thư, Ngủ Kinh đã in vào tâm, vào trí, nên những gì trong sách đều là kim chỉ nam cho cuộc sống.
Trong câu trên thì bốn chữ: “Nhất dĩ quán chi” là quan trọng hơn cả, mà chữ nhất lại đứng đầu. Chữ nhất chỉ là một gạch ngang, nên chi bằng làm một cái khăn hình dạng chữ Nhất đội lên đầu, mọi người trông thấy hàng ngày để đừng quên. Nhìn thấy chữ Nhất là nhớ đạo làm người: Nhất dĩ quán chi, một mà bao trùm tất cả! Đúng vậy, Nho giáo quan niệm “Vạn vật đồng nhất thể”, chỉ có một thể cho muôn loài, muôn vật. Thể ấy trùm cả Thiên-Địa-Nhân (Trời-Đất-Người) và con người cố vượt đứng đầu vạn vật, hiểu thấu được cái lý của Trời Đất, để hoàn thiện con người, đưa con người tới “Chân-Thiện-Mỹ”!
Còn cái khăn chữ Nhân: Nhân là người, đã là người thì phải theo Đạo Làm Người để cho ra con người, gọi tắt là “Nhân Đạo”. Trong đó lấy Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín đối đãi với nhau hàng ngày giữa Người với Người. Mọi người cố làm đúng bổn phận mình trong gia đình và xã hội. Giữa tình vợ chồng, cha con, thầy trò, vua tôi và bạn bè. Làm tròn sẽ có gia đình và xã hội yên vui.
Khăn chữ Nhất và khăn chữ Nhân với ý nghĩa cao quý như vậy đem để ngay trên trán trên đầu là chỗ cao quý của người đàn ông nước Việt là đúng nhất, hợp nhất.
Áo: áo dài năm thân!

Áo dài đen năm thân vì vải the hay lương xưa kia khổ hẹp độ hai gang tay (40 cm) đem may áo dài phải có năm miếng giáp lại mới thành, hai miếng sau, hai miếng trước và một miếng làm vạt ở nách phải. Theo hình vẽ phía trước là thân 1 và 2, phía sau là thân 3 và 4 và một thân từ chỗ cài cúc chạy dài xuống là thân 5. Cả năm thân, cộng với hai tay và cổ áo bao bọc thân người, từ đầu gối trở lên tới cổ. Năm thân áo dài đen đàn ông Việt Nam còn ý nghĩa tượng trưng cho Ngũ hành, năm yếu tố sơ nguyên căn bản cấu tạo ra trời đất, con người và muôn vật đó là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Đưa triết lý ngũ hành ứng dụng vào xã hội là năm Nhâm Thường (ngũ thường) là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm nên “Nhân Đạo” nói ở trên.
Đặc biệt chiếc áo dài Việt Nam cài khuy, cài cúc về phía bên Tả, ngược chiều kim đồng hồ, tức là Tả Nhậm! Khác với áo của người Tầu cài nút ở giữa, hay bên hữu cùng chiều với Kim đồng hồ: Hữu nhậm.
Xin nói sơ qua về Tả nhậm
Nếu chúng ta để ý về thiên văn thì thấy tất cả các thiên thể, giải ngân hà trong vũ trụ đều quay ngược kim dồng hồ, quay để hướng vào tâm. Cũng như các vòng trên mặt Trống Đồng từ to đến nhỏ đều hướng vào Tâm, hướng vào Mẹ (gọi là sách Mẹ). Hướng quy tâm còn gọi là Tả nhậm. Trong Đạo Việt, Tả Nhậm là phù yểu: nâng đở bên yếu để giữ thế quan bình, không nghiêng lệch về một bên, muốn vậy thì giữ cho Trung (Trung Đạo). Do đó, Việt ta có: dân cao hơn quân (dân vi quý, quân vi khinh), nhà trước nước (nhà nước), vợ trước chồng (vợ chồng) và văn trước võ (văn võ) v.v…khác với Tầu: Quân, Sư, Phụ = Vua, Thầy mới đến Bố hay phu phụ = chồng rồi mới đến vợ…
Tóm lại, yếu đặt lên trên không vì hơn hay kém, mà vì cần nâng đỡ để giữ quân bình, trung bình và cân đối. Trong ý đó ta có câu: “Trọng nghĩa kinh tài”, vì tiền tài, vật dụng nó có đủ sức quyến rũ lôi kéo lòng người hơn nghĩa. Cụ thể theo duy vật: lấy kinh tế chỉ huy văn hóa thì mất tình, mất nghĩa là mất Đạo Làm Người. Làm người mà vô đạo thì không bằng cầm thú, cỏ cây!
Quần
Sau hết là chiếc quần mầu trắng. Tại sao phải mầu trắng? Nghĩa đơn giản là tiền nhân ta quan niệm. “Trắng Đen” phải rõ ràng minh bạch, nhất là trong sự giao tiếp giữa người với người và cả với thiên nhiên, vạn vật, hai Đức Trung và Thực là Đức rất quan trọng. Trung như nói ở trên, rồi Hiếu nữa: “Làm Trai Trung Hiếu làm đầu” (không phải Trung Quân như Hán nho) nên “tứ thời bát tiết Xuân tại thủ. Nhân sinh bách hạnh hiếu vi tiên”. (bốn mùa tám tiết xuân đứng đầu. Con người có trăm đức hạnh Hiếu làm đầu). Làm tròn hai đức Hiếu Trung, thì con người đầu đội trời, chân đạp đất, luôn thẳng tiến tới không hổ thẹn với cỏ cây.
Tiền nhân ta đội trên đầu cái khăn, khoác trên người cái áo, cái quần có ý nghĩa gồm thâu cả Đạo Nhân Luân, cùng càn khôn Vũ Trụ thật cao siêu huyền diệu vô cùng!
Nên cũng khăn áo ấy của người Nam và chiếc áo dài của người Nữ, ông bà ta đã dựng nước và giữ nước thành một giải giang sơn gấm vóc qua mấy ngàn năm lịch sử. Và cũng từ khăn áo ấy đã sản sinh ra bao bực anh hùng như Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo, Quang Trung, Nguyễn Trãi, Bà Trưng, Bà Triệu v.v… Và cũng khăn áo ấy ông cha ta đã viết nên những áng văn chương trác tuyệt như Kim Vân Kiều, Chinh Phụ Ngâm…
Tới chúng ta, luôn cho là văn minh tiến bộ, thử hỏi: Ta đã làm gì ích nước lợi dân, đã làm gì điểm tô giòng truyền thống cho mỗi ngày một phong phú, tốt đẹp?
Nhân ngày Tết, ngày trọng đại của con dân Việt, chúng ta hãy lắng tâm nhìn lại mình, rồi hướng về tiên tổ trên bàn thờ gia tiên khói hương nghi ngút, và tự hỏi: Tại sao chiếc khăn chiếc áo cao quý như vậy mà ta chối bỏ?
Nếu lấy lý do tiện lợi, thì ta mặc âu phục khi đi làm, còn những ngày quan trọng như Tết Nhất, Hội Hè chúng ta mặc Quốc Phục, để chứng tỏ ta có gốc, cũng có nguồn.
Với chiếc khăn chữ Nhất hay chữ Nhân, cái áo dài năm thân và quần trắng làm nên bộ Quốc Phục của người Nam. Quốc Phục chính là căn cước của mỗi dân tộc, xin đừng quên vậy!
Nguyễn Việt An



