Tiểu luận. Ngu Yên
Phẩm giá của nhà thơ, nói cho cùng, không phải là cái mũ phớt đội lệch, không phải là điếu thuốc ngậm hờ nơi khóe miệng trong bức ảnh đen trắng chụp ở quán cà phê hạng sang.
Trong cõi sáng tác thơ, có nhiều khôi hài, bước thêm vài bước là mỉa mai, nhưng ít ai chịu nói ra hoặc khi nói ra thì nói kiểu lịch sự một cách tối đa trở thành huề vốn. Ngày nay: Nhà thơ nhiều hơn người đọc. Thời này, người ta làm thơ như gà đẻ trứng. Mỗi sáng thức dậy, lướt mạng, ta thấy hàng vạn quả trứng non vừa rơi xuống, lòng đỏ còn chưa kịp đông, vỏ đã vỡ toang vì vội vã phô trương.
Giữa cảnh chợ ồn ào ấy, câu hỏi về phẩm giá của nhà thơ vàphẩm chất của bài thơ trở thành một câu hỏi khó nhìn, khónhận. Như miếng bánh mì để quên trong túi áo khoác mùa đông. Ta biết nó ở đó, biết nên xử lý cách nào, nhưng lại không muốn động đến, ngại ngùng một chút mốc meo, hoặc sợ hãi bầy bọ đen đầy trong túi. Sự cố quên đó luôn nhớ, luôn trở lại nhắc nhở, luôn làm cho niềm vui, nỗi tự hào bên ngoài sụp đổ bên trong. Phẩm giá của nhà thơ, nói cho cùng, không phải là cái mũ phớt đội lệch, không phải là điếu thuốc ngậm hờ nơi khóe miệng trong bức ảnh đen trắng chụp ở quán cà phê hạng sang. Phẩm giá không phải là bộ áo dài nhung đỏ trong đêm ra mắt tập thơ, cũng không phải là cái giải thưởng lủng lẳng treo trên tường như cái đầu nai nhồi bông của gã thợ săn kém tay nghề.
2
Phẩm giá là cái cột sống. Mà cột sống thì ở bên trong, không ai thấy, chỉ khi nhà thơ cúi gập xuống trước quyền lực, trước tiền bạc, trước thị hiếu rẻ tiền của đám đông, người ta mới biết rằng thật ra những người đó chưa bao giờ có cột sống, họ đi thẳng được là nhờ sợi dây vô hình mà ai đó đang giật từ phía sau. Nhà thơ có phẩm giá là người dám ngồi một mình trong căn phòng mà ngoài kia cả thành phố đang tiệc tùng. Anh ta không làm thế vì kiêu hãnh, vì anh ta hiểu ngôn ngữ là một con thú hoang, không chịu đến với ai đang muốn săn bắt. Còn những nhà thơ chạy từ hội này sang hội khác, hôm nay lên đài, mai lên báo, ngày kia lên sân khấu đọc thơ bằng giọng rung rung tập luyện công phu, thì ngôn ngữ đã sớm bỏ anh ta mà đi, để lại trên trang giấy những xác chữ khô, xếp hàng ngay ngắn như nghĩa trang liệt sĩ của những ý tưởng chưa kịp sống đã chết. Còn phẩm chất của bài thơ, chà, đây mới là chuyện dài. Bài thơ tốt không phải là bài thơ có nhiều tính từ đẹp, cũng không phải là bài thơ có nhiều ẩn dụ lạ tai như món lẩu thập cẩm mà đầu bếp quăng tất cả vào nồi rồi gọi là sáng tạo. Bài thơ tốt là bài thơ mà khi đọc xong, ta có cảm giác như vừa bị ai đó lấy trộm một cái gì đó trong ngực, nhưng ta không giận, chỉ ngẩn ngơ giữa đường, sờ vào chỗ trống ấy và nhận ra nó vốn trống từ lâu rồi, nhà thơ chỉ là kẻ đã thắp đèn soi vào đó cho ta thấy mà thôi. Thơ xoàng thì ngược lại. Thơ dở là thơ nhồi nhét. Nhồi nhét hoa lá, nhồi nhét trăng sao, nhồi nhét nỗi buồn có tổ chức và niềm vui có trật tự. Đọc xong một bài thơ dở, ta có cảm giác như vừa ăn xong một bữa buffet ở khách sạn ba sao, bụng no căng mà miệng vẫn nhạt, không nhớ nổi mình đã ăn gì. Ngôn
3
từ thì đầy, nhưng không có một hạt muối nào đọng lại trên đầu lưỡi. Có một thứ phẩm chất mà bài thơ hay nào cũng có, đó là sự thật. Không phải thật theo kiểu báo cáo, mà thật theo kiểu một đứa trẻ nói theo ý nó. Thật không có nghĩa là kể chuyện đúng như đã xảy ra, mà là dám đi đến tận cùng cái cảm giác của mình, dẫu cho tận cùng ấy là một cái hố không đáy, dẫu cho đi tới đó nhà thơ phải bỏ lại bộ áo tử tế mà xã hội đã may đo cho anh ta từ thuở lọt lòng. Nhưng ta lại đang sống trong một thời đại mà sự thật bị coi là hàng xa xỉ, còn sự giả dối bọc đường thì được bán đồng giá ở mọi cửa hàng. Nhà thơ trẻ học cách làm thơ bằng cách đọc các nhà thơ trẻ khác, những người cũng vừa học làm thơ bằng cách đọc các nhà thơ trẻ khác nữa. Cứ thế, cả một thế hệ soi gương vào nhau, và cái gì được phản chiếu vô hạn lần giữa hai tấm gương thì cuối cùng cũng trở thành hư vô. Họ viết về nỗi cô đơn mà chưa bao giờ thực sự cô đơn, viết về tình yêu mà chưa từng bị một ai làm cho đau đến mức không đứng dậy nổi, viết về cái chết như thể cái chết là một chủ đề thú vị trong bữa trà chiều. Cho nên, phẩm giá của nhà thơ và phẩm chất của bài thơ, rốt cuộc, là hai mặt của cùng một đồng xu. Đồng xu ấy, nếu đem ra chợ, chẳng mua được gì. Nó không đổi được gạo, không đổi được thuốc, không đổi được một đêm ngủ yên trong khách sạn. Nhưng kẻ nào đánh mất nó, thì dẫu có cả kho vàng, anh ta cũng chỉ là một cái túi rỗng biết đi, một cái loa phóng thanh biết ngâm nga, một con vẹt bận rộn bắt chước tiếng của những con vẹt khác. Và có lẽ, điều bi hài nhất là thế này: những nhà thơ có phẩm giá thực sự thường không có thì giờ để bàn về phẩm giá. Họ đang bận. Bận gì à? Bận nghe tiếng lá rơi trong đêm. Bận cãi
4
nhau với một từ ngữ bướng bỉnh không chịu đứng vào đúng chỗ trong câu. Bận nhìn một ông lão bán bánh mì trên vỉa hè và tự hỏi tại sao đôi mắt ông ấy lại chứa cả một dòng sông mà không ai nhìn thấy. Còn cái công việc viết tiểu luận rôm rả về phẩm giá nhà thơ, thì thường là việc của những kẻ như người đang viết những dòng này, những kẻ đứng bên lề, vỗ tay một cách thành thạo, và trong bụng âm thầm hy vọng rằng bàn tay vỗ của mình có thể vang to bằng một câu thơ thực sự.
Thở ra!