Sáng tác một bài thơ

0

Linh Vũ

Từ lâu chúng tôi thường làm thơ với đủ thể loại, nhưng có khi không theo luật lệ nào cả, đa phần tùy hứng mà thôi, nhiều người cho là không thông suốt sai vần, thiếu, thừa từ, ngang vần, sai bằng trắc, sai âm điệu.v.v. và v.v. Mặc dù chúng tôi hiểu hầu hết các luật thơ, nhưng không áp dụng. Có lẽ hơn 15 năm tôi và một số bằng hữu có kế hoạch để làm mới thơ truyền thống Việt nam với tất cả các thể thơ bằng một loại gọi thơ “Tân Hình Thức/New formalism poetry”. Ví dụ như thể thơ Lục bát chúng tôi chỉ sử dụng có chữ thứ 6 câu một, vần với chữ thứ sáu câu tám hay chữ cuối câu thứ 8 câu vần với chữ cuối câu sáu kế tiếp hay không vần gì cả. Thơ Luật bát thường là nhịp 2 nhưng với phá thể người ta có thể làm nhịp 3 nhịp 4.v.v Chúng tôi chỉ giữ các vần chính còn các luật bằng trắc khác trong câu không cần quan tâm lắm kể cả âm điệu, còn thơ loại 7 hoặc 8 chữ không cần vần điệu. Đó là bước đầu tiên cải cách. Nói tóm lại, nhiều bài không vần, không âm điệu gì cả gần giống như văn xuôi. Tuy nhiên, phong trào thơ Tân Hình Thức vẫn bị nhiều người chống đối và chưa thích hợp với thời buổi hôm nay. Cho nên, những người làm thơ truyền thống đã chỉ trích nặng nề. Tuy nhiên cũng có nhiều nhà thơ trẻ theo đuổi và làm mới thêm thơ Tân Hình Thức hơn 10 năm qua. Hôm nay chúng tôi trở lại những luật lệ thơ truyền thống của chúng ta như thế nào và cách nào để làm một bài thơ hay.

A-Những điều cần có

Thứ nhất. Phải biết mục tiêu của chúng ta muốn gởi gắm điều gì trong bài thơ đó. Bài thơ này chỉ dành cho riêng bạn hay chia xẻ với nhiều người đọc ?. Nếu cho riêng bạn thì không cần lo lắng về vần điệu hay luật bằng trắc, nhưng với người đọc chúng ta phải thiết lập theo một thể loại văn học để tạo ra phản ứng cảm xúc với người đọc, đúng với luật lệ của các loại thơ truyền thống. Hay nói một cách khác là phục vụ người đọc loại thơ truyền thống.

Đầu tiên hãy tự hỏi những gì bạn muốn nói trong bài thơ. Trải nghiệm cá nhân, phản đối bất công, tệ hại xã hội, thất vọng trong tình yêu, nhớ về kỷ niệm, nỗi buồn, mô tả vẻ đẹp thiên nhiên.v.v. Bạn phải có một chủ đề nói về sự kiện đó. Khi muốn sáng tác một bài thơ thì chúng ta có rất nhiều cảm xúc, có khi đến bất chợt, hay một tình cờ trong hoàn cảnh nào đó để sáng tạo một bài thơ… Bạn không cần một số cảm xúc to lớn hay kịch tính để viết về những đề tài như. Giáo dục, chiến tranh, thời đại, chính trị.v.v. Nói tóm lại là những đề tài quá lớn nhiều khi chúng ta không đủ khả năng. Hãy nghĩ về những điều bình thường dân gian trong xã hội con người.

-Về ý nghĩa. Chủ đề thơ phải nhìn vào kinh nghiệm của riêng mình. Câu hỏi được đặt ra là.  Bạn muốn viết về điều gì? Bạn cảm thấy sâu sắc về điều gì trong đó mà bạn muốn viết? Bạn có thể đưa cảm giác đó thành lời không? Bạn có thể làm cho cảm giác đó trở thành một hình ảnh mà người khác có thể nhìn thấy qua lời nói của bạn không? Khi đã trả lời tất cả vấn đề đó, bạn có thể bắt đầu viết.

Thứ hai. Trước khi bắt đầu, bạn phải quyết định thể loại thơ nào mà bạn muốn: 4 chữ, 5 chữ, Lục bát, Thất ngôn tứ tuyệt, Thất ngôn bát cú, tám chữ, tự do.v.v. Sau đó bạn làm một giàn bài ngắn gọn bạn sẽ viết về điều gì, nhật vật là ai, chủ đề muốn nói, bắt đầu từ đâu….Tiếp theo bạn phải chọn loại nào thích hợp như: Tường thuật, Trữ tình, tranh đấu, trào phúng hay dí dỏm. Về hình thức của bài thơ, bạn phải có một cấu trúc, tiêu chuẩn về vần điệu, độ dài của dòng, số dòng, khổ thơ.v.v.

Cấu trúc một bài thơ rất quan trọng. Hình ảnh và âm thanh phối hợp với nhau để tạo nên sự xuất sắc về kỹ thuật của một bài thơ. Nhưng nếu những từ của bạn trống rỗng thì không mang ý nghĩa sâu sắc nào. Đó là điểm cần chú ý khi viết một bài thơ.

Thứ ba. Cách sử dụng ngôn từ, trong đầu bạn suy nghĩ để tìm một số từ thích hợp với chủ đề của bạn với ý tưởng liên tục trong bài thơ. Tránh dùng những ngôn từ sáo rỗng để mô tả, nhưng không có nghĩa là quá bình dân. Cũng như bạn có thể dùng phép ẩn dụ hoặc mô phỏng nhưng vừa phải. Ngôn từ phải sinh động khơi cảm xúc cho người đọc, cho dù ngôn ngữ đó mang nghĩa đen hay nghĩa bóng, ngôn từ có thể dùng các biểu thức khác nhau nhưng đừng quá mức. Nên nhớ truyền đạt ý tưởng cho người khác rất quan trọng trong bài thơ. Ngoài ra chúng ta phải chú ý nhân vật trong bài thơ là ai, cốt chuyện như thế nào, chủ đích muốn nói gì và kết luận ra sao. Đôi khi sự trừu tượng cũng cần thiết cho một bài thơ, nó sẽ làm cho mỗi người hình dung một cái gì đó khác nhau. Tuy nhiên nếu không tế nhị dùng từ, nó sẽ làm bài thơ của bạn tầm thường và yếu kém.

Về mặt ngữ pháp. Phong cách âm thanh, cơ bản nhất là vần, tuy nhiên, bạn không nên ép một vần. Thay vì sử dụng các vần cuối chính xác, đây là một số tùy chọn để đạt được hiệu ứng thính giác hấp dẫn của vần điệu khi viết thơ ví dụ như: Sự lặp lại của một nguyên âm trong các âm tiết không vần, đó có thể là sự nhấn mạnh êm ã, nhẹ nhàng. Là hiệu ứng âm thanh của một vần điệu không gây khó chịu cho người đọc; Sự lặp lại của một phụ âm ở đầu từ. Cụ thể là các phụ âm cứng như T, ST và CH… có hiệu ứng cứng, nhưng có nhiều nhà thơ thích sử dụng lối này.

-Vần nội. Tức là từ bên trong (giữa) của một dòng, chứ không phải là những từ cuối cùng. Giống như sự đồng điệu, bạn có được hiệu ứng của một vần điệu mà không có âm thanh như một sự lột xác. Phong cách âm thanh cơ bản nhất là một vần. Tuy nhiên, chúng ta không nên ép một vần. Thay vì sử dụng các vần cuối chính xác, đây là một số tùy chọn để đạt được hiệu ứng thính giác hấp dẫn của vần điệu khi viết thơ (có nghĩa là âm điệu chứ không phải là vần điệu)

-Điều quan trọng khác chúng ta cần lưu ý là sử dụng các dấu trong thơ. Có một số dấu như: (Dấu phẩy, dấu chấm, dấu gạch ngang, dấu chấm than, dấu chấm hỏi, dấu chấm phẩy, dấu hai chấm, dấu ba chấm) của câu thơ cho đúng mọi quy tắc ngữ pháp. Điều này có nghĩa là bạn sử dụng dấu câu để phục vụ theo cách bạn muốn bài thơ được đọc như thế nào. Đối với thơ Việt rất ít sử dụng dấu trong những câu thơ, nhưng thơ của Tây phương họ thường dùng nhiều hơn. Tuy nhiên, chúng tôi cũng muốn nói thêm ngắn gọn về dấu trong tiếng Việt: “Dấu phẩy” thường dùng để chỉ ranh giới giữa các vế trong câu ghép song song, là biểu thị thời gian tạm dừng ngắn hạn, hay khoảng thời gian tạm dừng dài hơn; “Dấu chấm” dùng ở cuối câu tường thuật, có nghĩa là câu đã kết thúc; Dấu “gạch ngang” thường dùng để tách riêng ra thành phần chú thích thêm trong câu, để biểu thị tạm dừng của sự kết nối suy nghĩ; “Dấu cảm thán” Dùng để kết thúc câu cảm thán; Dấu “Chấm hỏi” dùng để kết thúc câu nghi vấn; Dấu “Hai chấm” Có tác dụng báo hiệu bộ phận câu đứng sau nó. Dấu “Chấm phẩy” dùng để ngăn cách các vế trong câu ghép hay trong các phần liệt kê; Dấu “Ngoặc kép” dùng để đánh dấu tên tài liệu, sách, báo trích dẫn trong câu; Dấu “Chấm lửng/3 dấu chấm” Là người viết không muốn liệt kê hết sự vật, hiện tượng trong chủ đề và  Không sử dụng dấu cho câu sẽ tạo cảm giác vội vã, làm bài viết miên mang khó nắm bắt chủ yếu mà bạn muốn. Lựa chọn dấu cho câu của bạn sẽ phụ thuộc vào mục tiêu của bạn khi viết một bài thơ. Điều này có nghĩa là bạn muốn chủ yếu của mình tuân theo các quy tắc chấm câu.

Một điều quan trọng khác là lời cuối của một bài thơ, tức là “Từ “cuối cùng của mỗi dòng, hay dòng và từ cuối cùng của bài thơ rất quan trọng. Đây là điểm nhấn mạnh sẽ vang vọng trong đầu người đọc với sự chú ý. Cho nên, kết thúc một bài thơ cần có dấu chấm câu (dấu gạch ngang, dấu chấm, dấu phẩy.v.v.) Điều này trong thơ Việt ít thấy. Đối với thơ phương Tây thì một bài thơ không có dấu để kết thúc sẽ làm cho cách đọc khác biệt đáng kể, vì vậy hãy xem xét hiệu ứng của bạn muốn có là gì trong bài thơ.

Nói tóm lại, còn nhiều loại dấu nữa nhưng trong thơ ít khi sử dụng, cho nên chúng tôi không muốn đi sâu vào vấn đề này. Nhất là thơ Việt, đa phần là tự hiểu ngầm đã kết thúc hay tiếp tục.

Thứ tư. Muốn bài thơ được nhiều người hâm mộ và hấp dẫn người đọc thì phải chú trong đến cảm xúc của mình như yêu thương, thương hại, đau buồn, giận hờn, thù ghét, phẫn nộ, tất cả phải diễn tả một cách nghiêm túc, đừng giả tạo hay vì một lợi ích nào đó. Đôi khi vấn đề tình cảm sẽ giảm chất lượng văn học trong tác phẩm của mình. Nhiều khi một bài thơ quá ủy mị, ướt át, bi lụy hay hùng tráng đều ảnh hưởng đến đọc giả thích thú hay khó chịu.v.v. Điều quan trọng là bài thơ phải súc tích đừng quá dài lê thê. Nếu bài thơ của bạn quá dài dòng, điều này khiến bạn sẽ lạc đề hay lập lại ý tưởng nhiều lần, nhàm chán. Điều này làm cho người đọc khó chịu không thích thơ của bạn. Hãy sẵn sàng chỉnh sửa, cô động bài thơ của bạn xuống dạng tốt nhất.

Theo như người Việt chúng ta làm thơ thường chú trong đến nghĩa ngữ bay bướm nhiều hơn và những từ sử dụng không mới lắm, có lẽ ngôn ngữ Việt không đủ nhiều hay không ai làm mới thêm cho ngôn ngữ thì phải.

Thứ năm. Khi chúng ta làm một bài thơ, hãy suy nghĩ bài thơ của mình sẽ kích thích người đọc như thế nào? Ví dụ thị giác, nhiều người cố sắp bài thơ mình theo một hình thể “form- shape” như: Sắp xếp kiểu tam giác, nén trái, ép phải, hình kim tự tháp… hay một vài hình thể khác. Nhưng điều này không quan trọng hay ảnh hưởng đến cốt lỏi một bài thơ, phải nói đó chỉ là một trò chơi. Một bài thơ khi đọc hay ngâm sẽ ảnh hưởng đến thính giác của người nghe, một bài thơ hay dở cũng có liên quan đến người diễn tả. Đọc lên một bài thơ nghe như thế nào, hay ngâm nghe có hấp dẫn, có đi vào lòng người không. Ngoài ra nó còn ảnh hưởng đến giọng đọc hay giọng ngâm của người đó nữa.v.v. Nhất là bài thơ của mình có kích thích óc tưởng tượng của họ về cảnh vật, hình dáng, màu sắc không và nhất là cảm xúc vui mừng, hạnh phúc, tư do, yêu thương, giận hờn.

Việc sử dụng hình ảnh trong thơ cũng rất quan trọng nên chú trọng về vấn đề này. Nhờ hình ảnh đó mà khi đọc một bài thơ họ cảm thấy như đang ở trong bài thơ của mình. Trước mắt họ là một bức tranh toàn cảnh họ có thể nghĩ đến hay nhìn ra nó. Có nhiều người đọc xong bài thơ họ mĩm cười, có người rơi nước mắt, có người nhăn mặt hay thấy hình ảnh đó ngay trước mắt họ, thậm chí cũng có bài thơ người đọc không cảm nhận được điều gì trong đó. Một bài thơ không chỉ ảnh hưởng đến thính giác (âm thanh trong thơ), thị giác mà còn ảnh hưởng đến khứu giác, xúc giác và thị giác nữa mặc dù là trong trí tưởng tượng, ví dụ một bài thơ nói về hoa, về thú vật, về một người đàn bà đẹp, một món ăn ngon.v.v. Chắc chắn họ sẽ có một cảm giác về nó, từ trừu tượng thành hình ảnh cụ thể.

Thứ sáu. Về vần điệu và luật bằng trắc. Nếu chúng ta không theo luật của một bài thơ thì chắc chắn bài thơ sẽ không có ai đọc và sẽ bị chỉ trích đối với những người quen thuộc với loại thơ truyền thống. Cho dù bài thơ có một ý hay nhưng không đúng qui luật thì bài thơ đó sẽ giảm chất lượng và không thể tồn tại hay thích hợp với văn học, nhất là những người trưởng thành trong nền văn hóa cũ không có óc khai hóa mới, cố chấp và độc tài (hãy tìm đọc thơ ca phương Tây đã thay đổi thế nào trong nhiều thập niên qua) để thấy rằng chúng ta mãi mãi trong trong lớp vỏ khô cứng, không khai phá và sợ hãi. Nếu quý vị muốn tìm hiểu thêm về vấn đề này xin vào website “Tân Hình Thức” để tìm hiểu thêm.

Thứ bảy. Khi bạn đã hoàn tất một bài thơ, không có nghĩa là nó đã hoàn hảo. Chúng ta nên đọc đi đọc lại nhiều lần với nhiều thời gian khác nhau, thậm chí vài tuần, vài tháng sau đó, chúng ta mới thấy cái sai, cái dở của mình trong bài thơ. Khi đọc bạn sẽ thấy có nhiều từ, nhiều câu, nhiều chỗ cần phải sửa đổi vì khi chúng ta làm một bài thơ chúng ta bỏ qua các chi tiết quan trọng. Khi đọc lại chúng ta sẽ thấy mình có một quan điểm hay một vài thứ khác lúc ban đầu. Cũng có thể thấy mình không còn là mình như buổi đầu tạo ra nó và có nhiều khuyết điểm mà trước đây mình không phát hiện. Hay một cách khác, đọc to bài thơ một vài lần để xem bạn muốn thay đổi và nhấn mạnh đến điều gì. Một cách khác nữa nếu bạn có những người quen có trình độ hiểu biết về thơ, bạn có thể nhờ họ đọc để góp ý.

Nói tóm lại, chúng tôi chỉ nêu ra vài nét đại cương mà thôi. Bạn không cần phải là một thiên tài văn học để viết những bài thơ hay, bạn chỉ cần biết những điều căn bản, những gì bạn phải làm để có một bài thơ như chọn lựa một vật thể, địa điểm, con người hoặc ý tưởng bình thường và đưa ra một nhận thức mới về nó. Mặc dù có nhiều người học cao có bằng cấp, nhưng họ khó có thể làm được một bài thơ hay, ngược lại họ có thể phê bình chính xác về vấn đề hay dở của bài thơ đó. Thông thường người ta nói là tài do trời cho, hay người có tâm hồn nghệ sĩ hay thiên phú gì đó.v.v. Có nhiều người không có học vị cao nhưng họ làm thơ rất hay thậm chí có nhiều bài để đời hay có tên trong văn học sử.

Theo chúng tôi, việc làm thơ chỉ là ghi lại những cảm xúc trong tâm hồn mình, trong một bất chợt hay đang nghĩ về điều gì đó trong quá khứ hay hiện tại và ghi lại bằng dụng cụ ngôn ngữ. Thật ra có nhiều định nghĩa về thơ như: Thơ là hình thức nghệ thuật dùng từ trong ngôn ngữ là chất liệu; thơ là sự tuôn tràn, bột phát những tình cảm mãnh liệt. Thơ là nghệ thuật ngôn từ; Thơ là tiếng vọng của tâm hồn; Thơ là sự thể hiện sâu sắc tâm trạng.v.v. Đó là những định nghĩa của một số nhà trí thức Việt, đối với tôi thơ chưa có một định nghĩa nào hoàn chỉnh, cho nên tôi không quan tâm đến vấn đề này.

Trước khi chúng tôi đi sâu vào một số luật thơ truyền thống với những quy luật của nó để chia xẻ với mọi người. Chúng tôi xin trình bày một ý tưởng cá nhân là làm cách nào đế viết một bài thơ.

Bất cứ ai cũng có thể sáng tác một bài thơ. Nói như thế không có nghĩa là dễ dàng để viết một bài thơ hay. Tôi đã viết thơ nhiều năm và tôi đã trải qua nhiều lỗi như đã nói trên. Sau một thời gian dài tôi đã tìm đọc và học hỏi rất nhiều, nhưng có một điều tôi cảm thấy không vừa lòng lắm vì phải chọn vần điệu, ngôn ngữ, số câu, số từ, ngữ âm.v.v. đã mất đi ý tưởng xuất phát trong tôi, nhiều khi có những bài thơ gượng ép, cứng ngắt, chán phèo hay ảnh hưởng đến những câu thơ mình đã đọc hay thuộc của người khác. Cho nên thơ tôi cũng chỉ cho riêng tôi…

Tuy nhiên, chúng tôi cũng chọn được một vài mẹo vặt để thực hành tốt nhất trong việc làm thơ, không có nghĩa tôi muốn trở thành một Thi sĩ (tuyệt đối không). Tuy nhiên, với sự hiểu biết này nó đúng với tôi nhưng có thể không thích hợp với người làm thơ khác, hay những người chưa bao giờ làm một bài thơ trong cuộc sống của họ. Nhưng những điều này cũng có thể sẽ giúp bạn bắt đầu một trò chơi chữ nghĩa, ghi lại những cảm xúc của mình. Hay những người đã từng làm thơ sẽ tìm cho mình một cái gì đó hay hơn để cải thiện công việc sáng tác thơ của họ. Sau đây là những tóm lượt.

-Bài thơ phải có một số loại nhịp điệu nào đó thích hợp với mình

Vần không nên chiếm ưu thế hơn ý nghĩa. Nếu bạn đang viết một bài thơ có vần điệu nhưng trống rỗng thì bài thơ đó không có giá trị, nó chỉ là một số từ ngữ ghép lại với nhau. Trong trường hợp, nếu bạn không thể tìm thấy một vần điệu nào hiệu quả, hãy tìm một vần nào gần nhất (có thể chỉ là âm điệu). Không nên quá gò bó vào vần điệu mà mất đi luồng ý tưởng của mình.

-Hãy thử các thể loại và hình thể khác nhau. Đừng bị mắc kẹt trong một lối mòn luôn luôn viết cùng một hình thể. (vd chỉ viết thơ Lục bát thôi không sử dụng thể loại khác) Bạn càng viết nhiều, những bài thơ của bạn sẽ tốt hơn.

Qui tắc làm một bài thơ. Như chúng tôi đã nói ở đầu bài viết này, mỗi độc giả có những kỳ vọng riêng của mình cho một bài thơ. Và chắc chắn không có quy tắc nào về cách sáng tác một bài thơ. Tuy nhiên, chúng ta có thể làm những việc sau đây hy vọng sẽ giúp chúng ta trong việc sáng tác một bài thơ.

-Bạn nên đọc thơ thường xuyên, chọn lựa những nhà thơ nỗi tiếng được nhiều người ưa thích, những bài thơ hay để nghiên cứu. Hãy siêng năng, say mê về bộ môn này, giống như chúng ta làm nghề nghiệp vậy. Cứ lập đi lập lại nhiều lần nó sẽ trở thành dễ dàng, quen thuộc với chúng ta. Giống như công việc thủ công nghệ lâu ngày thành thói quen và thuần thạo. Việc làm thơ cũng như vậy. Điều này giúp cho bạn có khả năng tốt để sáng tác một bài thơ hay. Một điều quan trọng nữa mà nhiều người thường vấp phải. “là không nên thuộc thơ của người khác nó sẽ ảnh hưởng đến những bài thơ của mình, trùng ý, trùng từ của họ” Mặc dù là sự tình cờ.

-Cứ cho là một hình thức thơ cá nhân (của riêng cho bạn). Một bài thơ chỉ dành cho riêng mình để nói về: Những niềm vui và tuyệt vọng, cơn thịnh nộ và đau đớn, tình yêu và dục vọng, bất hạnh hay những ngày vàng son, những điều không tưởng.v.v. Có nghĩa là không cần đọc giả hay có danh hiệu là Thi sĩ, hay có tên trong văn học sử gì cả… Tùy chúng ta chọn lựa, đây là thứ chơi tao nhã không cần phải bắt buộc theo quy tắc nào cả.

-Tránh sử dụng tính từ và trạng từ nhiều. (nói thêm Tính từ (adjective) là từ được dùng để miêu tả tính chất, trạng thái của người, vật hoặc sự việc. Hay để bổ nghĩa cho chủ từ hoặc đứng trước danh từ để bổ nghĩa cho danh từ. Trạng từ           (adverb) là từ được dùng để diễn đạt cách thức, mức độ, thời gian, nơi chốn.v.v.) Ý tôi muốn nói là đừng dùng lối tả chân (có nghĩa dùng từ quá đúng sự thật) nên dùng ẩn dụ hay dùng lối diễn tả từ những vật thể hay hình thể khác để người đọc liên tưởng hoặc biết được đó điều muốn diễn đạt. Vd muốn nói đến người phụ nữ xinh đẹp, chúng ta có thể dùng mái tóc, nét môi, làn da, lời nói, dáng đi hay thậm chí dùng một loài hoa.v.v. để diễn tả, có nghĩa là đưa đọc giả đến một chiều không gian khác để nhìn thấy cái đẹp đó là gì.

Tóm lại còn nhiều vấn đề khác nữa nhưng bài viết không thể đi vào từng chi tiết hay đưa ra nhiều ví dụ được. Tóm lại làm cách nào chúng ta có thể đưa đọc giả đến gần chúng ta hơn từ niềm vui, nỗi đau hay cơn thịnh nộ thấm vào tĩnh mạch của họ. Và làm sao để họ có thể nếm được vị mặn của nước mắt, cái ngọt ngào của bờ môi, mịn màn của làn da, êm ả của giọng nói. Hay cái đẹp của thiên nhiên, cái ấm áp, hạnh phúc, cái thất vọng và ưu tư của nhân thế và tính nhân bản của con người.v.v. Sau đây chúng tôi xin nói đến thơ truyền thống của chúng ta ra sao.

Trong quá trình đổi mới của mỗi giai đoạn văn học, Thơ vẫn thường đóng vai trò tiên phong. Đổi mới thơ là tự thân của sáng tạo thơ. Sự đổi mới trong lĩnh vực nghệ thuật rất cần thiết trong văn học, con người và văn hóa luôn song hành sẽ không dừng lại, nó luôn thay đổi theo thời đại, với chiều sâu suy cảm của óc sáng tạo của con người. Thơ là người lính tiên phong. Có lần tôi về Việt nam được gặp mặt một số anh em nghệ sĩ, tôi có hỏi nhà thơ Phan Huyền Thư khi đề cập đến phong trào thơ đổi mới của chị và cô Vi Thùy Linh thì chị Phan Huyền Thư trả lời bằng câu nói của VTL “Tôi không bao giờ hoá trang để nhập vai kẻ khác”. Đúng vậy, thơ là của chính mình, là cửa sổ của tâm hồn nhìn về một phương trời riêng và tư duy của mình, chứ phải tự mình buộc sợi dây thừng từ ngàn năm của kẻ khác cho là mẫu mực, là truyển thống.

Trên vũ trụ này cái gì cũng phải thay đổi thì văn hóa sẽ không ngoại lệ. Thơ văn ngày xưa của chúng ta đã nhiều lần thay đổi theo trào lưu mới nhất là thời kỳ tiếp thu văn hóa Pháp và nhiều thi sĩ Việt đã nhận ra thơ vần điệu, niêm luật của cổ thi không còn là mẫu mực cần thiết và bắt buộc cho thơ văn VN. Lý do tại sao? Vì khi chúng ta chú trọng đến niêm luật, vần điệu sẽ bị gò bó trong việc sáng tác, ý nghĩ sẽ bay mất, luồng tư tưởng sẽ cạn kiệt, không tuôn trào phong phú. Quý vị có thể tìm đọc phong trào đổi mới trong năm 1917 với báo Nam Phong, với lời thú nhận của Phạm Quỳnh về thơ mới như thế nào.

Chúng tôi xin trích một đoạn trong Wikipedia có viết như sau:

Cái nghề thơ Đường luật khó đến như thế, khó đến đỗi kẻ muốn làm thơ, mỗi khi có nhiều tư tưởng mới lạ muốn phát ra lời, song vì khó tìm chữ đối, khó chọn vần gieo, nên ý tưởng dẫu hay cũng đành bỏ bớt. Cái phạm vi của thơ Đường luật thật là hẹp hòi, cái qui củ của thơ Đường luật thật là tẩn mẩn. Nếu còn ưa chuộng theo lối thơ này mãi, thì nghề thơ văn của ta chắc không có bao giờ mong phát triển được…

Chính vì thế mà ngày nay ít ai làm thơ đường. Tuy nhiên, thơ dù là thể loại nào đều có cái hay của nó nếu đạt đến tuyệt đỉnh như bên Trung Quốc có Lý Bạch – Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị – Đường Huyền Tông – Vương Hàn – Vương Chi Hoán – Vương Xương Linh – Cao Thích – Sầm Tham – Mạnh Hạo Nhiên – Vương Duy – Trương Thuyết – Tổ Vịnh – Thôi Hiệu – Trương Kế… Mặc dù thế, nhưng thời đại hôm nay ở Trung Quốc rất ít người làm thơ Đường.

B-Quy luật thơ truyền thống.

1-Thơ Đường.

Thơ đường sử dụng hai thể thơ chính là Cổ thể (gồm cổ phong và nhạc phủ) và Kim thể (hay cận thể, gồm luật thơ và tuyệt cú). Theo như ông Đào Thế Sơn phân tích thì, “thơ cổ thể không bị hạn chế về số câu, số chữ, không bị hạn chế về niêm luật, cách gieo vần, do đó có khả năng biểu hiện được nhiều sắc thái tình cảm cũng như phản ánh những vấn đề xã hội rộng lớn. Thơ kim thể còn gọi là thơ Đường luật, thể thơ này tuy bị gò bó về niêm luật, song nó cũng có ưu điểm cấu trúc chặt chẽ, cân đối , hài hòa, “bát cú” là dạng chính của thơ Đường luật, từ nó có thể suy ra các dạng khác như “tuyệt cú” và “bài luật”, ở Việt Nam ta chủ yếu sử dụng thể này”.

Thơ đường luật khó làm, nhưng anh bạn của tôi khuyến khích tôi nên sáng tác và họa thơ Đường nhiều để cho đầu óc hoạt động khỏi bị bệnh Elzheimer (bệnh quên trí nhớ) tôi nghĩ điều đó cũng đúng, cho nên tôi đã cố gắng làm thơ Đường, đó cũng là lý do làm tôi đi ngược lại thời gian bỏ một số thói quen để thể thao trí óc.  

Phân biệt giữa Đường Thi và Thơ Đường Luật. Thơ Đường tức là Đường Thi: là những bài thơ của các thi gia Trung hoa làm vào thời đại nhà Đường (618 – 907- Thế kỷ thứ 10 STL, Trước thể Thơ Ðường là thể thơ Cổ Phong chưa có niêm luật ràng buộc. Tuy nhiên sau này thơ Đường luật là một thể được ưa chuộng và có cấu trúc chặt chẽ hơn các thể khác.

1-Thơ Đường Luật : (Thất ngôn bát cú)

  1. Luật bằng vần bằng:

Câu 1: B B T T T B B (v)

Câu 2: T T B B T T B (v)

Câu 3: T T B B B T T

Câu 4: B B T T T B B (v)

 Câu 5: B B T T B B T

Câu 6: T T B B T T B (v)

Câu 7: T T B B B T T

Câu 8: B B T T T B B (v)

  1. Luật bằng vần trắc:

Câu 1: B B T T B B T (v)

Câu 2: T T B B B T T (v)

Câu 3: T T B B T T B

Câu 4: B B T T B B T (v)

Câu 5: B B T T T B B

Câu 6: T T B B B T T (v)

Câu 7: T T B B T T B

Câu 8: B B T T B B T (v) 

  1. Luật trắc vần trắc:

Câu 1: T T B B B T T (v)

Câu 2: B B T T B B T (v)

Câu 3: B B T T T B B

Câu 4: T T B B B T T (v)

Câu 5: T T B B T T B

Câu 6: B B T T B B T (v)

Câu 7: B B T T T B B

Câu 8: T T B B B T T (v)

  1. Luật trắc vần trắc:

Câu 1: T T B B B T T (v)

Câu 2: B B T T B B T (v)

Câu 3: B B T T T B B

Câu 4: T T B B B T T (v)

Câu 5: T T B B T T B

Câu 6: B B T T B B T (v)

Câu 7: B B T T T B B

Câu 8: T T B B B T T (v)

Chúng tôi chỉ tóm lượt ngắn gọn như sau:

-Bố cục: giúp cho tình ý trong bài thơ được trình bầy có tính lý luận:

-Câu đầu là câu Khai Ðề nêu ra một chủ đề tổng quát.

-Câu hai là câu Phá Ðề: nói rõ chủ đề là gì.

-Hai câu 3 & 4 là cặp Giải Thích: chứng minh chủ đề.

-Hai câu 5&6 là cặp “Luận”: suy rộng ra.

-Hai câu 7&8 là hai câu Kết Ðề.

Bây giờ chúng ta đi sâu một vài chi tiết sau đây.

-Chữ cuối câu 1,2,4,6,8 có cùng thanh bằng hay trắc

-Chữ cuối câu 3,5,7 là trắc nếu chữ cuối câu 1,2,4,6,8 là bằng và ngược lạị
-Chữ 2,4,6 trong mỗi câu phải đúng luật bằng trắc, chữ 1,3,5 sao cũng được cốt là nghe hoà hợp trong cả câụ.

-Luật bằng trắc rất dễ, chỉ cần nhớ là trong hai câu đầu các chữ 2,4,6 thay đổi nhau.

-các câu 3,4 và 5,6 phải đối nhau về ý và về tự loại chữ nào câu trên là verb/noun/adjective thì chữ ở vị trí đó của câu dưới cũng là verb/noun/adjective.

-Có những ý kiến cho rằng 2 cặp câu 3,4 và 5,6 của thơ Đường Luật phải đối một cách tuyệt đối, nghĩa là từng chữ câu trên thuộc tự loại nào thì chữ cùng vị trí trong câu dưới cũng phải đúng tự loại đó. Điều này khó khăn nhất trong thơ đường luật.

Họa Vận

Một người làm một bài xướng lên,một người nữa làm bài khác họa lại mà các vần trong bài họa phải theo y như các “vần” trong bài xướng, còn ý nghĩa hoặc phụ theo cho rộng, hoặc trái hẳn lại (phản đề)

Nói tóm lại, thơ Đường có 5 điều sau đây: Luật, Niêm, Vần, Đối và Bố cục. Và “nhất, tam, ngũ bất luận, nhị, tứ, lục phân minh.”. Luật lệ khó quá ngay cả Thi sĩ Nguyễn Công Trứ ngày xưa làm thơ Đường có vài bài không đối chuẩn từng chữ. Như vậy một bài thơ hay có cần phải đúng luật không? Đừng câu nệ vào luật quá. Luật do người làm thơ đặt ra, hãy đọc lại nhiều bài thơ của các cụ ngày xưa làm thì sẽ rõ hơn như. Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Vi Khuê, Nguyễn Du, ngay cả Lý Bạch đời Dường cũng có nhiều bài phá lệ.v.v. Luật chỉ để người ta dùng làm căn bản để chấm thi ngày xưa mà thôi.

Đâu phải bài thơ đúng luật là hay là ngàn đời sử sách! Điều quan trọng, Thơ hay là phải có hồn thơ và phốn hợp một cách tài tình của tất cả ngôn ngữ, từ, vần điệu, âm điệu, nhịp điệu và phá lệ nếu cần, miễm nghe thuận tai và ý nghĩa tuyệt vời là được rồi. Thơ giống như cách trang điểm của một người con gái vậy. Ví dụ Thi sĩ Tản Đà, ông phối hợp nhiều thể thơ, phối hợp một cánh rất tài tình, rất tự nhiên của nhiều thể loại thơ lại với nhau như. Cảm Thu, Tiễn Thu… Hay Thi sĩ Hàn Mặc Tử, Quang Dũng, Thâm Tâm, Thế Lữ cũng có bài đâu cần có luật đâu. Có ai dám nói nó không phải là thơ không? Hay ông không biết làm thơ không?

Đọc Phan Khôi hay Phạm Quỳnh phê bình thơ cổ xưa trong thời đại thơ mới để thấy rõ vấn đề, sự cần thiết thay đổi, làm mới thơ là than thuốc bổ cho văn học, là bước tiến của nhân loại. Tuy nhiên còn rất nhiều bài thơ của các cụ nhưng chúng tôi không thể dẫn chứng hết ra đây được, mong quý vị thông cảm.

2-Thơ Lục Bát.

Thơ Lục Bát là loại thơ rất dễ làm, tuy nhiên nó rất khó hay đôi khi trở thành một bài thơ vè hay ca dao. Lục bát là thể thơ gắn bó từ lâu đời với người Việt Nam vì thể thơ dễ làm, gần gũi, mộc mạc và cấu trúc không rườm rà khó khăn như các loại thơ khác. Có thể nói rằng, Lục bát là thể thơ dân tộc được hình thành trên những điều kiện cụ thể, bình dị với những đặc trưng trong ngôn ngữ Việt.

Tuy nhiên, theo thời gian thơ lục bát luôn được thay đổi với nhiều cách sáng tạo linh động, như ngắt câu, nhiều tiết tấu khác nhau. Hay với sự phối hợp với thể loại thơ khác rất mới giống loại thơ tự do mang đầy tính nghệ thuật. Sự biến đổi đó có tên gọi chung là biến thể trong lục bát hay còn gọi “Lục bát biến thể”. Tuy nhiên sự thay đổi nào cũng có cái hay cái dở của nó, nếu chúng ta không cẩn thận sử dụng hài hòa và hợp lý thì bài thơ sẽ không có giá trị. Ví dụ thích ngắt mạch bừa bãi, tuỳ hứng, không mục đích thì bài thơ sẽ không còn là thơ nữa.

Sau đây là vần điệu thơ Lục Bát:

Thể loại Thơ Lục Bát không giống như một số thể loại thơ khác, nó có cả cước vận và yêu vận, hay nói rõ hơn là vần ở giữa câu và cuối câu. Đặc tính của Lục bát là dùng yêu vận cho nên cứ 3 câu lại đổi vần một lần và muốn làm bao nhiêu cẩu cũng được. Thông thường thơ Lục bát người ta thường dùng vần “bằng” tuy nhiên cũng có những bài thơ dùng vần “trắc” cũng khá hay. Luật thơ Lục bát khá đơn giản như sau đây:

 B2   T4   B6            – bằng trắc bằng (chữ thứ 2,4 và 6)

 B2   T4   B6   B8     – bằng trắc bằng bằng (chữ thứ 2,4,6 và 8)

Tóm lại.

  1. 4. 6

bằng. trắc. bằng

  1. 4. 6

trắc bằng trắc

Hay – Câu lục:    b  B  t  T  b  B 

         – Câu bát:   b  B  t  T  b  B  t  B  (Những chữ viết hoa bắt buộc phải theo đúng quy luật bằng trắc. Ngược lại, những chữ còn lại không bắt buộc phải đúng luật).

-Tuy nhiên thơ Lục bát trong nhiều năm qua đã biến thể khá nhiều có khi không theo quy luật bằng trắc nói trên ví dụ tiếng thứ 2 câu lục có thể là trắc, khi ấy nhịp thơ ngắt ở giữa câu.

Người nách thước, kẻ tay đao 

Đầu trâu mặt ngựa, ào ào như sôi.

-Hay một cách khác. Tiếng cuối câu lục có thể vần với tiếng 4 câu bát, khi đó tiếng 2 và 6 của câu bát sẽ đổi ra trắc. Câu thơ sẽ ngắt nhịp ở giữa câu bát, như trong câu ca dao sau:

Đêm nằm gối gấm không êm

Gối lụa không mềm bằng gối tay em.

Hay trong “Tân hình thức” Lục bát biến đổi như sau:

KIỀU

Thủy Tiên
Em đâu biết tiếng Anh,
chỉ bập bõm vài câu đâu hiểu hết.
Thiệt ra tụi em gặp nhau
chỉ có hai lần trong quán bún riêu,
sau đó cưới luôn. – Anh ấy
làm gì? – Thất nghiệp. – Biết vậy sao vẫn
lấy? – Em mới học hết lớp
5, không việc làm,nhà nghèo, em đông.

……….

Còn nhiều bài nữa nhưng số trang có hạng chúng tôi không muốn đưa ra nhiều ví dụ mong thông cảm.

-Lục bát biến thể “Tứ Bằng Lục Trắc”  Thay vì “Tứ Trắc Lục Bằng” như truyền thống lâu đời của Thơ lục bát chính thể, nếu bây giờ ta đảo ngược luật đó thành “Tứ Bằng Lục Trắc”, thì ta sẽ có được một thể Lục bát mới, đó gọi là Lục bát biến thể Chữ cuối câu 6 sẽ phải ăn vần với chữ thứ 4 của câu 8. Tuy nhiên loài này cũng ít khi thấy dùng nhiều trong toàn bài. Hay chúng ta thường thấy trong lục bát có nhiều câu thêm một vài chữ vào trong đó đọc nghe êm tai và âm điệu như lục bát, thật ra đó là loại ca dao. Ví dụ Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo ngũ lục sông cũng lội, thất bát đèo cũng qua…

Luật Phù Trầm

-Một điều chúng ta thường thấy trong thơ Lục bát là. Trong câu 8, nếu chữ thứ 6 là Phù bình thanh (không dấu), thì chữ thứ 8 phải là Trầm bình thanh (dấu huyền). Hay ngược lại nếu chữ thứ 6 là Trầm bình thanh (dấu huyền), thì chữ thứ 8 bắt buộc phải là Phù bình thanh (không dấu).

-Hay một cách khác nữa là hình thức “phá cách” về âm vận, trong khi vẫn tuân thủ chặt chẽ luật “Phù Trầm”. Đây là cách chúng tôi đã làm trong thể loại thơ Tân Hình Thức trong nhiều năm qua “Lục bát tân hình thức”. Có người cho rằng không có cái gọi là “Lục bát trắc vận”, mà những trường hợp thí dụ nêu trên chỉ là một biến thái thêm bớt chữ của thể “Song thất” mà thôi. Mỗi người có ý nghĩ khác nhau hay niêm luật mà họ suy nghĩ điều đó không đúng mà cũng không sai, thơ là như vậy đó.

Vần điệu.

-Vần. Là những từ khi đọc lên ta nghe thấy âm hưởng của chúng giống nhau (giống nhau về Nguyên âm và Phụ âm cuối; bắt buộc phải là cùng thanh âm trắc hoặc bằng) Một điều nên nhớ, trong trường hợp mà 2 từ Đồng âm (cùng âm) thì bắt buộc phải Dị nghĩa (khác nghĩa) điều này có thể chấp nhận trong luật thơ.

-Lạc vận. Tức là bài thơ câu lục gieo 1 vần, xuống câu bát (ở từ thứ 6 vần lưng) lại tiếp vần khác, làm cho câu thơ đọc lên không có âm điệu, khó nhớ, tức là vần lưng câu đi sau không khớp với vần chân câu đi trước, hoặc 2 vần chân của câu trước và câu sau không khớp với nhau. Khi hai vần không thuộc Vần Chính hay Vần Thông.

-Vần phụ (vần thông) Vần thông là những tiếng tuy không cùng một âm như các vần chính, nhưng có thể hợp để vần với nhau, do nơi sự vận dộng của môi và lưỡi khi phát âm nghe gần như giống nhau nên người ta gọi là vần thông.  Vần tương tự khi đọc lên nghe gần giống như A và IA; A và OA; Ô và ÔI; U và Ư …

-Vần chính. Có nghĩa là những tiếng có cùng một âm hưởng; hai tiếng có cùng giọng phát âm. Ví dụ Vần chính của vần bằng: A vần với A hoặc À, E vần với E hoặc È, AN vần với AN hoặc ÀN, INH vần với INH hoặc ÌNH… Nói một cách ngắn gọn, Vần chính là vần đã gieo trước, nếu vần của câu sau cũng cùng âm thanh như thế thì vẫn là vần chính.

-Điệp vận. Là vần (ở vị trí nhất định) trùng lặp trong thơ.

Tóm lại, còn nhiều điều nữa nhưng chúng tôi không nêu hết như, cưỡng vận, vần chéo, vần ôm, thứ vận, bình vận, tiết tấu, thi nhạc… Tuy nhiên tất cả những điều này không chỉ cho lục bát mà được áp dụng cho hầu hết các thể thơ. Trong thơ Lục bát có nhiều biến thể khác nhau mà chúng tôi đã đọc qua như: Lục bát ngắt câu; Tứ Bằng Lục Trắc; Lục bát biến thể âm vận; Lục Bát Trắc vận; Lục bát xen kẽ và Lục bát kết bài; Song Thất Lục Bát và Lục Bát Lập thể.v.v. Lục Bát biến thể này thường hay dùng trong các vở chèo, hát văn, hát ru, hát ví, cò lả, trống quân, sẩm xoan, bài chòi… 

3-Thơ song thất lục bát.

Nhiều người cho rằng thể loại thơ song thất lục bát là thể thơ đặc thù của Việt Nam, cho nên không gò bó về luật theo kiểu thơ khác. Thơ Song Thất Lục Bát gồm mỗi đoạn có 4 câu, hai câu đầu là 2 câu 7 chữ (Song Thất), hai câu cuối là Lục, Bát, có nghĩa là câu thứ ba sáu chữ, câu thứ 4 tám chữ (kiểu thơ Lục bát).

Thể thơ này được khá nhiều người yêu thích. Tuy nhiên cũng có một số luật thơ cần áp dụng thì nó mới xuất hiện. Trong câu 7, tiếng thứ 3 là trắc, 5 bình, 7 trắc; trong câu thất tiếp theo, tiếng thứ 3 là bình, 5 trắc, 7 bình. Hai câu lục bát thì theo luật thường của lục bát.

Tiếng cuối câu 7 phía trên phải vần với tiếng thứ 5 câu 7 phía dưới, tiếng cuối câu 7 phía dưới phải vần với tiếng cuối câu 6 kế tiếp, tiếng cuối câu 6 vần với tiếng thứ 6 trong câu 8. Và tiếng cuối câu 8 vần với tiếng thứ 5 của câu 7 tiếp theo. Tuy nhiên, tiếng cuối câu 8 cũng có thể vần với tiếng thứ 3 của câu 7. Do đó, tiếng 3 trong câu 7 trên có thể là trắc hay bằng.v.v. Đại khái luật bằng trắc của song thất lục bát chỉ có vậy, cứ tiếp tuc như thế và không giới hạn số câu trong một bài thơ.

Câu 7 đầu tiên:  Chú ý chữ thứ 3 có thể vần bằng hay trắc, chữ thứ 5 vần Bằng, chữ thứ 7 vần Trắc. Câu 7 thứ hai thì ngươc lại câu đầu vì dụ:

Chữ thứ    3 (B/T)  chữ thứ 5B,   chữ thứ 7T và ngươc lại

Chữ thứ    3 (T/B)  chữ thứ 5T,    chữ thứ 7B   còn câu 6 và 8 theo thể lục bát.

Nhưng bản luật mà chúng ta thường dùng là.

x x x x B x T(v)

x x B x T(v) x B(v*)

x B x T x B(v*)

x B x T x B(v*) x B (v**) (dấu x là không cần theo luật)

4-Thơ Bốn Chữ

Thơ 4 chữ là một trong những thể thơ thường được sử dụng phổ biến trong các thể loại thơ dân gian, đặc biệt là trong vè và đồng dao cho trẻ em và cũng cho cả người lớn. Thơ 4 chữ là một trong những thể thơ có nguồn gốc từ Việt Nam. Thơ 4 chữ dễ đọc, dễ nhớ với nội dung vui tươi, hồn nhiên…

Đặc điểm thơ bốn chữ là bài thơ có nhiều dòng, mỗi dòng có bốn chữ, gieo nhịp thơ phổ biến là nhịp hai, dễ làm, dài ngắn tự do, giống như văn kể chuyện hay loại miêu tả. Luật thơ 4 chữ không khó khăn lắm. Nếu tiếng thứ 2 vần bằng thì tiếng thứ 4 phải vần trắc; ngược lại, tiếng thứ 2 vần trắc thì tiếng thứ vần 4 bằng. Lối gieo vần thì có nhiều cách như vần lưng, vần chân, vần liền hoặc hổn hợp.

 2 . 4

trắc – bằng

2 . 4

bằng – trắc

Cách gieo vần thơ 4 chữ.

x B x T (v1)
x B x T (v1)
x T x B (v2)
x T x B (v2) 

Cách gieo vần tréo

x B x T (v1)
x T x B (v2)
x B x T (v1)
x T x B (v2)

Nhưng nhiều khi câu thơ cũng không theo một số luật nói trên.

5-Thơ Năm Chữ

Thơ 5 chữ cũng giống như thơ 4 chữ nó thuộc về loại dân ca, hát vè, kể chuyện, tục nghữ, dí dỏm, vui tươi mà người ta thường gọi là thơ ngụ ngôn. Luật của nó cũng không khó khăn lắm.

Đặc điểm thơ 5 chữ, là mỗi dòng 5 chữ. Cách ngắt trong nhịp câu thông thường là nhịp 3/2 hoặc 2/3, hoặc 2/1/2 hay 1/2/2.v.v. Cũng giống như thơ bốn chữ: Nếu tiếng thứ 2 trắc thì tiếng thứ 4 bằng, hay ngược lại. Nhưng cũng có nhiều trường hợp không phải vậy.

Thường thì thơ 5 chữ thường dùng vần chân. Vần chân có thể là vần liền, có nghĩa là 2 câu liền nhau có 2 chữ cuối cùng vần với nhau. Hay có thể làm vần cách có nghĩa là 2 câu cách nhau có 2 chữ cuối hiệp vần với nhau.

Nói tóm lại thơ 5 chữ hiện nay không khó khăn hay bắt buộc phải theo niêm luât như thơ ngụ ngôn đời Đường. Cứ mỗi dòng 5 chữ, gieo vần tương tự như thơ 4 chữ, ngắt nhịp 2/3 hay 3/2.

 Cách gieo vần liền (chữ X không cần theo vần)

x B x T x (v1)
x T x B x (v1)
x T x B x (v2)
x B x T x (v2)

Cách gieo vần ôm

x B x T x (v1)
x T x B x (v2)
x B x T x (v2)
x T x B x (v1)

Cách gieo vần tréo

x B x T x (v1)
x T x B x (v2)
x B x T x (v1)
x T x B x (v2)

6-Thơ Tám Chữ

Thể thơ này không có quy luật nhất định, có nghĩa là vần điệu tự do hơn. Thường thể loại thơ này dễ làm hơn so với những thể loại thơ khác, không bị niêm luật bắt buộc hay gò bó. Bát Ngôn là thể thơ tám chữ, tức là mỗi dòng trong đoạn thơ sẽ có tám chữ. Muốn cho thơ tám chữ thêm âm điệu, một số nhà thơ thường vần chữ thứ 8 câu trên với chữ thứ 5 hay 6 câu dưới.

-Câu số 2 và số 3, thì chữ cuối của câu hai và câu ba phải theo cùng vần là “trắc trắc”, hoặc “bằng bằng”, cứ hai cặp trắc lại đến hai cặp bằng cho đến hết bài thơ. 

-Câu cuối cùng cũng tương tự câu đầu. không cần phải vần với câu nào hết, nhưng nếu chữ cuối của câu cuối có thể vần với chữ cuối câu đầu thì sẽ hay hơn.

Luật bằng trắc. Tôi có xem qua nhiều người viết về luật bằng trắc trong thơ 8 chữ, nhưng đối với tôi thì không cần phải bắt buộc theo vần như vậy. Thơ 8 hoặc 9 chữ gần như là loại thơ tự do chỉ cần vần ở chữ cuối hoặc sử dụng bằng trắc tùy chọn sao cho nhẹ nhàng và có nhịp điệu, âm điệu là được. Theo như trong một trang mạng có người đưa ra một luật của thơ 8 chữ nhưng không biết căn cứ từ đâu. Tuy nhiên nếu muốn áp dụng cũng không có gì sai cả, miễn bài thơ đó suôn sẻ, phong phú, du dương đầy ý nghĩa là được rồi.

Theo hướng dẫn thì câu đầu tiên có thể thoải mái viết theo cảm xúc chủ đề bài thơ, tiếp theo đến câu 2 và 3 chúng ta sẽ chú ý cho chữ cuối của 2 câu này cùng vần với nhau. Có thể cùng vần trắc hoặc vần bằng. Cứ hai cặp trắc rồi lại đến hai cặp bằng cho đến hết bài thơ. Câu cuối cũng tương tự như câu đầu tiên có thể tự do viết theo đúng tinh thần bài thơ không cần theo khuôn khổ, nhưng nếu chữ cuối của câu này vần với chữ cuối của câu đầu sẽ tạo nên sự uyển chuyển, xuôi tai và trọn vẹn hơn cho bài thơ. Ví dụ như dưới đây.

Vần trắc.

x x T (b) B x x T   hay    x x T x (b) B x T   (quan trong là chữ thứ 3-5 hoặc 6 và 8) 

Vần bằng.

x x B (t) T x x B    hay     x x B x (t) T x B   (quan trọng là chữ thứ 3-5 hoặc 6 và 8)

-Nhắc lại. Thường chữ cuối có thanh trắc thì chữ thứ 3 trắc, chữ thứ 5 và 6 phải bằng; chữ cuối có thanh bằng thì chữ thứ 3 bằng, chữ thứ 5 và 6 trắc. Hay Chữ cuối có thanh trắc thì chữ thứ ba là thanh trắc, thứ năm hoặc sáu là thanh bằng.

Tóm lại, chúng tôi chưa có tài liệu nào chính xác nói về vần điệu thơ 8 chữ cả, có lẽ do nhiều người sáng tạo theo cách riêng của họ, hay căn cứ vào một số bài thơ được nhiều người ưa thích của các bậc Thi sĩ nỗi tiếng để tạo ra vần điệu chăng ? Nhiều người đã áp dụng nhiều phong cách và vần điệu của những thể thơ khác để sáng tác thơ 8 chữ. Cũng như tôi đã sử dụng loại 8 chữ này cho loại thơ Tân hình thức trong nhiều năm qua với phong cách nhịp nhàng theo cách nói chuyện của đời thường. Theo tôi, nên thoải mái theo cảm hứng, theo ý tưởng của mình tuôn chảy, miễn thơ đó mang ý nghĩa độc đáo và âm điệu êm tai là được. Ví dụ có nhiều người hướng dẫn là mỗi đoạn 4 câu, vần câu lẻ với câu lẻ, câu chẳn với câu chẳn hay ngược lại, có khi trong 4 câu chỉ vần 2 câu cũng được và không cần nối vần với nhau. Với cá nhân tôi, cách thường làm nhất là theo kiểu vần ôm và vần chéo. Nếu không theo được thì trong 4 câu vần thế nào cũng được miễn êm nhẹ, nhịp nhàng. Và nếu cảm thấy cần thì có thể chú trong một chút về vần bằng trắc để bài thơ hay hơn có âm hưởng nhịp nhàng, xuôi tai và du dương hơn, đừng quan trọng theo một quy luật nào cả. Thơ 8 chữ theo quy luật tùy từng người với thiên tài làm thơ của họ tạo nên, có nghĩa là chúng ta không nên căn cứ cách họ làm rồi đưa tư tưởng chúng ta vào bốn bức tường không lối thoát. Quý vị nên nhớ, có những câu thơ không theo luật đôi khi là những câu thơ hay có giá trị nghệ thuật cao, mang nhiều ý nghĩa và nét đặc thù tuyệt vời của bài thơ.

7-Thơ tự do.

Nguồn gốc của thơ thơ tự do.

Thơ tự do là một ý tưởng hiện đại, nhưng nguồn gốc của nó bắt nguồn từ thời cổ đại. Từ Ai Cập đến Châu Mỹ, thơ mới sớm nhất đầu tiên với các bài thánh ca giống như văn xuôi, không có vần điệu hoặc quy tắc gò bó, cứng nhắc với các âm tiết có vần. Ngôn ngữ thơ ca phong phú trong Cựu Ước theo các kiểu hùng biện của tiếng Do Thái cổ đại được dịch sang tiếng Anh. Đối với loại thơ biến thể này không có gì lạ cả. Đó là những câu thơ, bài thơ tự do cách tân, nó đã khuấy động sự nhầm lẫn và tranh cãi trong lĩnh vực văn học phương Tây trong nhiều thập kỷ. Đầu những năm 1900, các nhà phê bình cảm thấy khó chịu đã chống lại sự phổ biến ngày càng tăng của thơ tự do. Họ gọi đó là hỗn loạn và vô kỷ luật, là biểu hiện điên rồ của một xã hội mục nát. Ngay cả khi thơ tự do trở thành chế độ tiêu chuẩn, lúc đó những người theo chủ nghĩa truyền thống cũng luôn chống lại nó khá mãnh liệt.

Thơ tự do đã có rất sớm ở các quốc gia phương Tây. Nhưng đối với xã hội Việt Nam thì thể thơ tự do (thơ mới) này mới bắt nguồn từ thời Pháp thuộc, là dấu ấn quan trọng trong lịch sử văn học, thơ ca Việt Nam, với những nhà thơ tên tuổi như TTKH, Thâm Tâm, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính v.v. Đến khoảng năm 1955, trên các thi đàn Việt Nam bắt đầu thấy xuất hiện một thể thơ, mới hơn cả thơ mới nữa, với tên gọi là “Thơ Tự Do” và phát triển trong văn học cho đến hôm nay. Thơ Tự Do, với tất cả những phá cách tiêu biểu, như thể là một sự cách tân của tâm hồn khỏi sự gò bó, áp lực của những lệ luật, vần điệu cũ.

Theo như những người ủng hộ lập luận rằng. Việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc truyền thống sẽ kìm hãm sự sáng tạo và dẫn đến ngôn ngữ hỗn độn và cổ xưa. Thơ tự do, là một sự đổi mới thi ca trong văn học. Chúng ta có thể định nghĩa đây là thể thơ không cần mọi niêm luật hay vần điệu, nhịp điệu, âm tiết hay bất kỳ khuôn khổ nào của một bài thơ có giới hạn câu dài ngắn. Nhất là nó không theo một hình thức, một quy tắc cố định nào.  Tuy nhiên không phải vì thế, mà thơ tự do không cung cấp được biểu hiện nghệ thuật. Với lối tư do này, nhà thơ có thể đưa ra một thể dạng của riêng mình cho một bài thơ theo ý muốn của mình. Tuy nhiên, nó vẫn cho phép các nhà thơ sử dụng các âm tiết, vần điệu, nhịp điệu và âm điệu để có được một bài thơ nhịp nhàng, du dương phù hợp theo cách lặp lại nhịp điệu của lời nói tự nhiên. Đồng thời sử dụng nghệ thuật của âm thanh, hình ảnh, và một loạt các hình thức đặc thù của văn học. Sự thay đổi lớn thơ tự do này được gọi là giai điệu tiến hóa “prosody”. Sau đây là những phần chính yếu trong thơ tự do.

Thơ tự do (Free verse) không có bất kỳ khuôn mẫu gieo vần hoặc một hình thể nhất quán nào. (meter/thể luật hoặc rhythm/chính vận).

Thuật ngữ hoàn toàn tự do

Câu thơ chính thức (Formal verse) không định hình bởi các quy tắc theo một mẫu gieo vần, một mô hình nào hay cấu trúc nào cố định.

Thể loại thơ này dựa trên các đoạn dừng lại bình thường tùy ý và các cụm từ nhịp điệu tự nhiên, không ràng buộc với bất kỳ hình thức nào.

Thơ tự do dùng hình ảnh cụ thể, tránh những triết lý trườu tượng và những biểu tượng tối nghĩa. Nhà thơ có thể tập trung vào hình ảnh hoặc âm thanh của từ mà không liên quan đến logic hoặc cú pháp. Hay những từ hàm chứa những hình ảnh cũ kỹ sáo mòn…

Số chữ trong mỗi câu không hạn định: ít nhất một từ, và nhiều thì có thể trên một chục từ.

Lời kết của bài thơ đôi khi được bỏ ngỏ, không đầu, không đuôi kết luận ra sao cũng được tùy người sáng tạo. Hoặc hình dung tiếp theo hướng nào cũng được cả.

Tóm lại, thơ tự do là những thể loại không nhất thiết phải theo một thể luật nào, tất cả chữ nghĩa, vần điệu, nhịp điệu, âm điệu ra sao thì tùy thuộc vào người làm thơ.

C-Vần là gì?

Vần Là những từ khi đọc lên ta nghe thấy âm hưởng của chúng giống nhau (giống nhau về Nguyên âm và Phụ âm cuối; bắt buộc phải là cùng thanh âm trắc hoặc bằng). Hay nói một cách khác từ này vần với từ kia hay câu này vần với câu kia. Những từ có phần sau giống nhau khi đọc lên âm thanh phát ra cũng khá giống nhau, từ đó cho ta khái niệm từ này vần với từ kia. Vần được dùng để nối câu, trên và câu tiếp theo vào chữ cuối cùng của câu thơ. Bây giờ chúng ta tìm hiểu xem vần kết hợp như thế nào trong nguyên âm và phụ âm của tiếng Việt.

 –Nguyên âm & Phụ âm. Có lẽ trong chúng ta ai cũng đã biết về nguyên âm và phụ âm trong tiếng Việt. Tuy nhiên chúng tôi cũng xin nhắc lại để chúng ta hiểu rõ hơn những chữ nào kết thành vần điệu trong thơ.

Tiếng Việt có 29 chữ cái. A, Ă, Â, B, C, D, Đ, E, Ê G, H, I, K, L, M, N, O, Ô, Ơ, P, Q, R, S, T, U, Ư, V, X, Y.

-Nguyên âm. còn gọi là chánh âm là chữ tạo nên âm của từ, gồm có: i /y, ư, u, ê, ơ, â, ô, e, a, ă, o.

-Phụ âm. Phụ âm đứng phía trước gồm: B, C, CH, D, Đ, G (GH), GI, H, (K), KH, L, M, N, NH, NG (NGH), PH, Q (U), R, S, T, TH, TR, V, X.

Phụ âm cuối. Phụ âm đứng sau cùng: c – ch –m – n – nh – ng – p – t

Hai nguyên âm hợp với nhau tạo thành một VẦN có âm mới hoàn toàn khác với các âm của chữ đã tạo ra nó như: ay – ây – au – âu.

-Hai nguyên âm kết hợp tạo ra vần có âm mới nhưng không đọc được (oă_, uâ_, iê_, yê_, ươ_, uô_) mà cần phải kèm theo phía sau một phụ âm cuối hoặc một nguyên âm nữa thì mới có thể đọc được (oă_, uâ_ là VẦN. Đây là nét đại cương để chúng ta sử dụng vần cho đúng trong thơ. Còn rất nhiều vấn đề khác trong ngôn ngữ Việt như: Nguyên Âm Đơn, Nguyên Âm kép; bán nguyên âm đơn; bán nguyên âm kép; vần đơn giản; vần ngược… Tuy nhiên, khi làm thơ chúng ta không phải bắt buộc theo đúng quy luật vần điệu lắm, chúng ta có thể sử dụng ÂM vận thế cho vần điệu chính cũng không sao.

Kết luận.

Để chấm dứt bài viết về những loại thơ trong văn học Việt Nam xưa và nay, chúng tôi xin lấy bài viết của một vài người bạn thơ từng sinh hoạt trong website “Tân Hình Thức” Người bạn Khế Iêm đã viết: “Dùng kỹ thuật vắt dòng chuyển tất cả những thể thơ có vần ở cuối dòng: 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ và lục bát, thành thể thơ không vần. Sau đó, dùng kỹ thuật lập lại, tạo nhịp điệu và hồi phục vần ở bất cứ chỗ nào trong bài thơ”… Hay một ví dụ khác “Ðể cụ thể hóa, chúng ta thấy, vọng cổ khi dùng những câu nói đời thường phổ vào âm luật, khi ca lên, trở thành lời ca tiếng nhạc, không còn là những câu nói đời thường nữa. Như vậy khi áp dụng thi pháp đời thường, có nghiã là đưa những câu nói đời thường vào thơ để trở thành thơ, phải dựa theo những luật tắc của thơ, và đó là ý nghĩa của thơ Tân hình thức.”

Thơ không vần (Blank Verse) tiếng Anh, đọc như văn xuôi, nhưng là một thể thơ với cơ cấu tạo nhịp điệu iambic, thơ không vần Việt cũng là một thể thơ, có phương cách để tạo nhịp điệu riêng, và kỹ thuật làm mất dấu văn xuôi. Còn văn xuôi và thơ văn xuôi thì không nằm trong thể luật nào và không có cơ chế để tạo nhịp điệu. Sự nhầm lẫn trên đã đưa tới những cái nhìn sai lệch đối với thơ Tân hình thức Việt. “Tân hình thức” đơn giản chỉ là chuyển những thể thơ có vần thành những một thể thơ mới, không vần, một thi pháp (cách làm thơ), hòa điệu những yếu tố, hướng tới một nghệ thuật thơ… Viết theo thể lọai tự do không vần, bằng thể luật iambic nhưng không dùng vần ở cuối dòng thơ. Những nhà thơ vần vì quen với vần điệu nên khó thóat ra khỏi âm hưởng thơ vần, còn những nhà thơ tự do, vì không quen với nhịp điệu thơ, và cũng không muốn bị luật tắc ràng buộc.

Mặc dù Tân hình thức rất mới lạ hôm nay, nhưng chúng ta cũng nên bước vào vườn hoa đó để xem có cánh hoa nào mới lạ và cần thiết làm mới cho văn học Việt không? Chúng ta không thể ở một căn nhà ngàn ngàn năm mãi, vì thế giới luôn có dự đổi thay. Biết đâu có một ngày nào đó có sự dung hòa của các loại thơ sẽ trở thành kỳ tích cho văn học nước nhà. Hãy thử thách, có thể không thành công hôm nay, biết đâu một ngày nào đó Tân hình thức sẽ đâm chồi nẩy lộc. Đổi mới trong thơ cần thời gian và người làm thơ bước vào, tìm một phương hướng mới, một nghệ thuật mới cho thơ. Cũng như thơ không vần tiếng Anh được phát hiện vào giữa thế kỷ 16, phát triển khỏang một thế kỷ rưỡi, đến thế kỷ thứ 18 thì ít người dùng. Cho đến giữa thế kỷ 19, lại trở thành thịnh hành với phong trào Lãng mạn cho tới hôm nay.

Tuy nhiên, cũng có người cho rằng. Khi muốn đạt tới nghệ thuật, ở bất cứ bộ môn nào, phải có luật chung, là thể thơ. Muốn sáng tác một bản nhạc, phải am hiểu ký âm pháp.v.v. Chúng tôi đồng ý về điểm này nhưng điều đó không hẵn là tuyệt đối. Hãy nhìn lại thơ Trung Quốc và phương Tây hiện nay đã thay đổi như thế nào, thơ Đường luật có còn bao nhiêu người còn tiếp tục làm, thơ Việt cũng vậy đã thay đổi ra sao qua bao nhiêu thăng trầm của đất nước, qua bao nhiêu sự hội nhập của nhiều nền văn hóa khác nhau. Dù là thể thơ nào cũng có cái hay, cái dỡ của nó tùy người sáng tác. Thơ và niêm luật do con người đặt ra, chúng ta không nên chú trọng hay gò bó quá làm mất đi những sáng tạo, ý tưởng và tinh hoa của một bài thơ.

Linh Vũ

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here