JULIO IGLESIAS, VUA NHẠC TÌNH

0

Linh Vũ xin giới thiệu quý đọc giả “GTVX” nhà biên khảo Hà Bắc với bài viết về Ca sĩ nỗi tiếng nhạc tình Julio Iglesias. Hy vọng quý vị sẽ có dịp thưởng thức nhiếu bài khác rất hay trong tương lai.
HÀ BẮC

Nếu Mỹ có Frank Sinatra thì Tây-ban-nha (TBN) cũng có một danh ca tầm vóc như thế. Có khác chăng là anh đã hát tại sáu đại lục, 70 quốc gia và hát bằng 7 thứ tiếng khác nhau! Anh cũng được ái mộ bởi trên nửa tỷ phụ nữ thế giới nhưng lại rất kín đáo về đời tư của mình. Danh ca ấy là Julio Iglesias, một Sinatra của Spain, quê hương anh.
Không như phần lớn danh ca thế giới thường xuất thân từ giới trung lưu hay nghèo như Sinatra, Elvis Presley, The Beattles …, anh được sinh trong một gia đình thượng lưu kỳ cựu tại thủ đô Madrid ngày 23/9/1943 với tên đầy đủ “Julio José Iglesias de la Cueva”. Cuộc nội chiến chấm dứt năm 1939 và vai trò trung lập của TBN đã không ảnh hưởng chút nào đến cha anh, bác sĩ phụ khoa Iglesias Puga. Chàng ca sĩ tương lai đã sống thời ấu thơ trong căn nhà đồ sộ có kẻ hầu người hạ thuộc khu sang trọng cạnh công viên Parque del Veste của thủ đô.

Vị bác sĩ tuy nổi tiếng nhưng ông không can dự đến các hoạt động chính trị như các người cùng phương vị. Ngay cả đối với nghề nghiệp, ông cũng không cho phép có quấy rầy đời sống gia đình riêng tư của mình. Julio là con trai đầu lòng nên đã gắn bó với bố như bóng với hình. Em trai của anh cũng vậy. Cả hai được bố giáo dục và động viên để đạt đến đỉnh cao nhất trên mọi lãnh vực. Gia đình anh; trong bối cảnh cai trị của lực lượng bảo thủ chiến thắng Falangists của Franco đã sống vững vàng theo chiều hướng bảo thủ; trong đó có khuynh hướng bảo tồn văn hóa dân tộc: Trường tư thục Công giáo, cha mẹ chọn nghề cho con. Ông mong muốn cậu con này đậu cao và trở thành đại sứ tại các cường quốc. Nhưng cậu con mê thể thao hơn sách vở. Cậu mê soccer, môn thể thao số một thế giới ngoại trừ Mỹ. Chính nhờ môn thể thao này, cậu đã đủ hơi sức để hát nhưng khúc nhạc dài lê thê không ngơi nghỉ sau này. Với tuổi 13 năm 1956, cậu đã là một trong những cầu thủ lợi hại nhất của đội bóng nhà trường và đã góp phần chiến thắng giải “Hữu Nghị Âu Châu” năm ấy.

Mặc dù hài lòng với năng khiếu thể thao của con, cha mẹ cậu cũng khuyến khích cậu học nhạc. Julio đã tỏ ra yêu thích và có khiếu ngay từ lần đầu ngồi nghịch chiếc đàn piano to đẹp của ông bà nội. Thắng cảnh tắm biển một mùa hè ở Galicia, chốn ngàn năm văn vật của nước TBN đã khiến cậu sáng tác bản “Canto a Galicia“. Cũng bất ngờ như Francoise Sagan của Pháp bị gạt ra ngoài cửa ải Sorbonne để trở thành văn sĩ, Julio đã bị rớt khi xin gia nhập ca đoàn nổi tiếng của nhà trường vì không đủ tiêu chuẩn cấp lớp đang theo học. Julio cũng có khiếu về sinh ngữ; đặc biệt là Pháp ngữ vốn là ngôn ngữ chính trong ngành ngoại giao thời ấy. Điều này đã làm ông bố yên tâm về con đường ngoại giao ông vạch ra cho con. Nhờ thể thao, Julio đã có được một thân hình vạm vỡ, cân đối khiến phái nữ chú ý. Anh chưa bao giờ bị trở ngại trong việc hò hẹn cũng nhờ cả vào nụ cười dễ dãi và nồng ấm. Nhưng cuộc đời có ngã rẽ của nó.
Tháng 7/1963 khi chàng thanh niên tốt nghiệp trung học Julio đang lái chiếc xe sport đến sân vận động thủ đô để thi đấu, một bánh xe bị văng ra khiến xe bị lật nhiều vòng. Các nhân chứng không tin là anh còn sống. Họ cho là phép lạ đã cứu anh. Đội cấp cứu báo cáo rằng anh đã bị gãy xương nhiều chỗ và mặt anh đầy máu do hàng ngàn mảnh kính vỡ ghim vào. Họ không tin anh có thể sống đến sáng hôm sau. Cả gia đình anh đã có mặt tại phòng cấp cứu để chờ đợi và cầu nguyện. Và Chúa đã nhận lời: Anh sống sót nhưng bị liệt cả hai chân. Anh phải dùng xe lăn để di chuyển và cũng đã bị suy nhược tâm thần. Thân thể anh không còn các bắp thịt cuồn cuộn như hồi còn là một cầu thủ đội thanh thiếu niên Real Madrid của trường trung học Công giáo nổi tiếng nhất thời ấy. Trọng lượng thân thể anh đang từ 95kg xuống còn 50kg.

Nhưng phép lạ thứ hai là nghị lực làm lại cuộc đời từ đầu; là mãnh lực thoát khỏi án “tù chung thân” trong chiếc xe lăn khi tuổi đời vừa mới đúng đôi mươi. Với ý chí, anh đã tập thể dục trong đau đớn với kết quả thật ít ỏi và thật chậm mỗi ngày. Các bác sĩ cho rằng anh đã tập quá nhiều trong khi anh tự cho rằng mình đã thực hiện được quá ít. Anh đã được bố trang bị cho các dụng cụ thể dục thay thế các trang bị phải trả lại bệnh viện. Anh đã tập ngày tập đêm để rút ngắn “án tù” ấy. Trong thời gian này, một trong các y tá ưa thích bệnh nhân Julio đã cho anh ta một cây đàn guitar cũ kỹ để giúp anh giải trí; để vận động các cơ cánh tay và bàn tay. Nhưng anh chỉ chú ý tập luyện chân để mong trở lại trường luật; hoàn tất điều mà bố anh mong đợi.

Sau hai năm phấn đấu, anh đã được toại nguyện: Anh đã có cảm giác và đã đi lại được trên cả hai chân. Rồi anh có thể bơi và chạy nữa! Anh được cha mẹ cho đi London học Anh ngữ rồi về nước học Luật. Song song với việc học, anh vẫn không quên chơi nhạc. Nhưng những bản nhạc tình làm rung động các y tá của anh đã không được các nhà sản xuất dĩa nhạc chú ý. May thay, chính các nữ sinh xinh đẹp anh đã gặp ở Cambridge University  đã thúc đẩy anh và là động lực khiến anh tìm ra tài năng thực sự của mình: Viết nhạc, trình diễn và hát. Một giám đốc đã khuyên anh nên hát nhạc của mình trước; nên đi từ địa phương tiến lên từng bước một vững chắc. Thế rồi nhân một kỳ nghỉ hè, anh đã bất ngờ ghi tên vào phút chót cuộc thi hát “Benidorm Song Festival” vào mùa hè năm ấy với bản “La Vida Sigue Igual” (đời cứ như thế) do anh sáng tác. Anh đã thắng giải nhất với một hợp đồng mời thâu dĩa bài hát ấy. Chỉ hai tuần sau khi được tung ra thị trường, bài hát đã đứng Top Hit!

Cuộc đời Julio bắt đầu thay đổi từ đó. Anh có lần tâm sự khi được nghe giọng ca của chính mình lần đầu phát từ radio trong xe hơi. Anh đã quay sang cô bạn gái ngồi cạnh mà nói bóng gió rằng không biết phải chọn nàng hay chọn cái radio – ý nói âm nhạc – này? Rồi anh kí hợp đồng với CBS; đi hát tận Nam Mỹ và đoạt giải nhất ở Roumanie. Anh kiên nhẫn hơn các ca sĩ khác thời bấy giờ: Sửa chữa từng nốt nhạc, từng cung nhịp và thể điệu để âm nhạc của anh được hoàn hảo. Sự sửa soạn thường kéo dài hàng tháng thay vì vài tuần như các ca sĩ đối thủ khác. Anh thành công trong việc sáng tác đúng đề tài mà tuyệt đại đa số quần chúng yêu cầu: Nhạc Tình! Mà quần chúng là phụ nữ; là cái số đông áp đảo và cuồng si nhất!

Anh cũng thành công trong diễn xuất để từng đối tượng thính giả nữ có cảm tưởng anh đã hát cho riêng họ. Anh không chùn bước trước phong trào sùng bái The Beattles của thập niên 1960s. Trái lại nhờ kiên nhẫn hơn, chịu khó hơn và khéo léo tránh né giới truyền thông nên anh đã không bị làm tù nhân của khán thính giả như The Beattles đã phải tự giam hãm trong các khách sạn để tránh bị “xé xác” bởi đám đông ái mộ cuồng nhiệt. Anh muốn đi vào trái tim từng người ở mọi nơi, mọi lúc chứ không chỉ trên sân khấu. Anh đã nghe theo lời khuyên tránh lập gia đình sớm để gắn bó với âm nhạc và các nữ thính giả hơn. Do vậy và cũng do công việc, anh ít khi ở đâu quá một đêm. Anh cũng được yêu cầu đóng phim để hát trong phim. Anh cũng đã đi hát để gây quỹ cho Red Cross Nam Mỹ cứu lụt năm 1969 và cứu trợ nạn nhân nhiều tai ương khác. Anh cũng được mời hát tại đại nhạc hội chỉ dành cho các soạn giả ở nước Ý. Anh đã hát ở Osaka, Nhật năm 1970 thành công; bởi vì theo anh, yêu là ngôn ngữ của mọi quốc gia, mọi dân tộc.

Mối tình của anh với cô gái Pháp tên Gwendolyne, một trong những người con gái đẹp nhất đời anh đã khiến anh phải sáng tác một bản nhạc mang tên nàng. Và anh đã thắng giải chung kết toàn quốc đi tranh giải quốc tế. Anh đã trở thành ngôi sao sáng thế giới mà gia đình bố mẹ anh cũng đã phải công nhận điều đó. Julio có đủ sức để hát cho 41 buổi ca nhạc của 41 thành phố trong chỉ có 30 ngày! Nước da ngăm đen và bóng lộn là kết quả của những buổi tắm nắng kéo dài nhiều giờ. Tắm nắng hình như là vị thuốc bổ cho sức khỏe và giọng ca của anh!? Anh cũng luôn lắng nghe lời chỉ trích và tự sửa đổi thật nghiêm khắc. Trong số hàng triệu khán thính giả ái mộ có cả công chúa Grace gốc Mỹ của xứ Monaco, vợ chồng Tổng Thống Anwar Sadat của Ai-cập, bà Reagan và nguyên thị trưởng Jacque Chirac của Paris …

Thế rồi trong một buổi tiệc ở Madrid, chành danh ca 27 tuổi đã bị tiếng sét ái tình Isabel Preysler 17 tuổi người Philippino đánh gục. Chàng ca sĩ và cô thính giả ái mộ đã thành hôn ngày 21/1/1971 tại Toledo, một thành phố cổ kính của quê hương anh. Cô dâu ngay sau đó hiểu ra cảnh làm vợ một ngôi sao quốc tế bận rộn ra sao. Khác với đời sống học trò mới hôm qua đây, hôm nay là một chuỗi dài những cuộc hành trình; đời sống hàng ngày là những khách sạn và va-li. Cô có thai chỉ vài tuần sau đám cưới nên phải ở lại Madrid. Con gái đầu lòng được đặt bằng chính tên “cúng cơm” của mẹ: Chaveli.

Giữ lời hứa với thính giả Nhật, Julio đã trở lại bằng chính ngôn ngữ của họ. Rồi gia đình anh ba người lại “đoàn tụ” trên những chuyến bay khắp thế giới. Trong thời gian này, anh đã thâu dĩa với lời ca tiếng Đức và đã đoạt nhiều huy chương từ hầu hết các hãng dĩa và quốc gia liên hệ. Khi đã thành công tuyệt đỉnh, Julio bắt đầu nhớ đến vị cố vấn tối cao, người đã nâng đỡ và ủng hộ lâu dài nhất, trung tín nhất của anh: Ông bố anh, bác sĩ Iglesias! Khác với bố mẹ các danh ca đương thời thường nhận kỷ vật lớn như một chiếc Cadillac, một tòa villa đồ sộ hay một chiếc du thuyền lộng lẫy … cha anh đã không cần vật chất tiền bạc. Ông đã nhận được món qùa của Julio: Bản nhạc “Canto a Galicia” ca tụng cái đẹp của quê cha. Bản nhạc nổi tiếng mau chóng trên khắp năm châu và thường được Julio hát để kết thúc mỗi buổi trình diễn.

Anh bước chân vào thị trường Mỹ khi số dĩa đã bán được lên đến 10 triệu tại đây năm 1973. Anh đã là một trong những kẻ giàu có nhất ở TBN. Anh không còn phải mua vé máy bay nữa. Anh đi hát bằng chính máy bay phản lực của mình! Anh có nhà ở Argentina, Tahiti để lánh nạn mùa đông. Cùng năm 1973 ấy, đứa con trai Julio José ra đời; và hai năm sau là con trai út Enrique. Con cái đùm đề thế nhưng anh vẫn không bỏ du hành. Anh đã tung ra các dĩa băng nhạc hát bằng Anh ngữ để chinh phục nước Mỹ; nơi mà thính giả không mấy chuộng các giọng ca lơ-lớ không chuẩn Mỹ. Những Edith Piaf, Yves Montand đã chẳng không thành công với các bản nhạc Pháp của họ đấy sao!?

Julio không ngán: Anh mua ngay một villa ở BelAir, California. Anh đã hát ở New York và Los Angeles, những nơi có nhiều khán thính giả nói được cả tiếng Anh lẫn Spanish. Hội trường rộng lớn nhất ở New York đã chiếm 70% bởi thính giả ái mộ; và may mắn lạ thường đã không có chuyện gì đáng tiếc như vẫn xảy ra! Tại Los Angeles, anh càng thành công hơn vì ngay hôm sau, các tiệm bán dĩa đã không còn dĩa Iglesias nào để bán. Sự thành công của anh lệ thuộc vào 90% mồ hơi và công sức. Đến giai đoạn giàu có rồi – cũng như cha anh- Julio làm việc không phải vì tiền mà là vì địa vị số một của mình. Anh thường không hỏi tên ký giả khi gặp họ. Anh chỉ hỏi họ làm việc cho hãng nào để cuộc phỏng vấn được tế nhị và thuận lợi. Anh cũng khéo léo tránh trả lời những câu hỏi về đời tư của mình. Khi được hỏi chừng nào về hưu, anh không ngần ngại trả lời “… tốt hơn có thể nói là khi tôi về chầu trời!“.

Julio càng được khán giả vây đông bao nhiêu, vợ anh càng bị cô lập bấy nhiêu ở Madrid! Isabel không cần một trăm ngàn khán giả trong một buổi ca nhạc ở Chilé. Những cú phôn của Julio về mỗi ngày đã quá xa để làm nàng hạnh phúc. Là một người Công giáo, một bà mẹ đã ba con, chắc nàng đã suy nghĩ kỹ lắm để đi đến quyết định ly dị. Quần chúng đã chán Rock, Swing, New Way; nay như chu kỳ trở lại với nhạc Romantic. Anh lại gặp thời vận với thính giả là các bà ngoài lứa tuổi 25. Có khác chăng là sau khi ly dị, nhạc anh buồn hơn. Anh tiết lộ thất bại của mình trong chính bài hát của anh: “… nếu có hạnh phúc, ta đã chẳng hát được như bây giờ!“. Chàng “single again” Julio nay có thêm job mới: Giám khảo chấm thi hoa hậu hoàn vũ 1979 và các cuộc thi sau đó.

Về phần Isabel, biết không thể xin giấy chứng nhận bãi hôn ở một nước Công giáo như TBN, nàng bay sang New York với nhân chứng Duquesa de Cádiz, cháu gái của Franco. TGM New York chả đã nổi tiếng là “lò cung cấp” giấy tờ loại này cho rất nhiều cặp công giáo ly dị ở các nơi khác tới đó sao. Xong ngay! Sau đó, Julio chỉ chú ý đến âm nhạc. Anh không dám “bước thêm bước nữa” vì nghĩ nó sẽ tương tự. Còn Isabel hai năm sau có chồng mới tên Carlos Filco người TBN. Nàng có một con gái với Filco tên Tamera. Julio thương nó như con mình.

Ở Los Angeles, anh chỉ được coi là một nhà giàu. Không ai đếm xỉa gì đến cái hào quang đệ nhất danh ca hay Top Song Seller của anh. Anh cảm thấy xa lạ ở đây. Ra đường có ai biết anh là ai đâu! Anh bèn đến Miami, cửa ngõ của Mỹ quốc trông ra thế giới nói tiếng Spanish: Anh chịu liền! Ở Los Angeles, nói tiếng Spanish chỉ có dân Mễ ở các xóm nhà nghèo mà anh chưa hề đặt chân tới. Còn ở đây – Miami- từ lối sống, thức ăn và dân nói tiếng Spanish từ các quốc gia Nam Mỹ tới sống xen kẽ nhau khiến anh có cảm giác “ở nhà” hơn.

Thế là anh mua ngay một căn nhà lớn ba triệu đô nằm trên một đảo nhỏ không xa Miami lắm. Anh đã bỏ ra khá nhiều thì giờ để trang trí lại căn nhà cho nó có vẻ Âu châu. Anh mướn nhiều nhân công thường trực. Ba đứa con đến thăm cha thường xuyên. Mẹ anh từ Madrid sang ở chung với anh khiến bố anh phải tới lui thường xuyên vì ông không bỏ phòng mạch ở nhà cho ai được. Gia đình người em Carlos của Julio cũng phải đến ở gần đó để phụ gánh vác công việc làm ăn của anh. Đời sống hàng ngày của anh ở đây là cuộc sống về đêm.

Ban ngày anh ngủ đến khoảng 11 giờ trưa; rồi vừa ngồi uống cà phê ở một góc nhà vừa liếc sơ trang nhất vài tờ báo. Sau đó anh biến vào phòng ngủ hay phòng khách gọi phôn đi khắp thế giới độ một vài tiếng đồng hồ. Anh thích những giờ phút gọi phôn ấy. Và sau đó là hai giờ thể dục trong phòng thể thao để duy trì 165 pounds sức nặng thân thể rồi ra hồ tắm. Tắm xong rồi, anh chạy trong vườn cùng với hai con chó có hai cái tên ngắn của hai bản nhạc. Thời gian còn lại là đờn ca ở phòng khách với chiếc đàn piano lớn. Sau bữa “ăn trưa” là một giấc ngủ ngắn, tắm rửa và 5 giờ chiều là lúc anh lái xe đến các phòng thâu âm.

Ngoại trừ cơ sở của ban The BeeGees, không có phòng nào có tầm vóc chuyên nghiệp ở đây. Anh ca đi ca lại cho đến khi hài lòng mới chịu chấp nhận cho phổ biến ra ngoài bốn bức tường. Có album phải mất 9 tháng với 10 tiếng làm việc mỗi ngày để hoàn tất. Trung bình mỗi năm, anh sản xuất 8 albums. Anh ăn “tối” vào khoảng 4 giờ sáng với đồ biển ưa chuộng. Bà mẹ thường ngồi ở bàn ăn để tiếp nếu bà có nhà.

Vì CBS hối thúc Julio học Anh ngữ gấp rút để ra album Mỹ, đầu tiên anh phải nhờ Barry Gibb của BeeGees hợp tác. Nhưng anh lại thành công ở Israel với album xen kẽ vài bài hát bằng tiếng Hebrew. Tại đây, anh lại bị tiếng sét ái tình đánh cho lần nữa. Cô đào ciné tóc vàng ở đây làm anh cảm động vì nàng đã dám liều chết băng qua vùng lửa đạn Lebanon từ Beirut chỉ để được gần chàng vài giờ! Nhưng chàng bị chê “già” và mối tình bất thành. Julio cũng suýt thành hôn với một cô người mẫu tóc vàng gốc Vénézuela tên Virginia Sipi sau đó. Thế rồi tai họa lại đến.

Bố anh sau chuyến thăm anh đã bị mất tích khi về đến nhà ở Madrid hôm 29/12/1981. Báo chí ở TBN đã đăng trang nhất tin này với nhiều giả thuyết và nhân chứng khác nhau. Em của Julio, bác sĩ Carlos được luật sư báo hung tin bèn giấu anh; sợ anh không chịu nổi. Chính vợ cũ Isabel của anh khi hay tin đã báo cho anh biết. Chàng danh ca khi hay tin bèn buông rơi phôn và nằm run rẩy trên một sofa. Cảnh sát Madrid cho rằng đây là một vụ bắt cóc tống tiền hoặc lý do chính trị. Họ phải hành động gấp để cứu vị bác sĩ và cũng để giữ uy tín của ngành cảnh sát nước này đối với thế giới.

Julio về Miami sống bên cạnh mẹ. Mọi cuộc lưu diễn đều bị hủy bỏ. Em trai Carlos phải về Madrid làm việc với cảnh sát. Giới truyền thông đến Miami săn tin sốt dẻo nhưng không thu thập được gì mới mẻ. Mỗi ngày có hàng ngàn lá thư gởi tới an ủi Julio. Hội các bà ở nhà thờ thì lần hạt, đọc kinh cầu nguyện cho bố anh. Học sinh ở Chilé thì viết thư phân ưu. Trong khi đó cảnh sát Interpol cũng nhập cuộc. Cảnh sát Madrid đã thẩm vấn hàng tá nghi can mỗi ngày. Băng cassette phôn nhà ở Miami thâu sẵn để trả lời huề vốn các cú phôn tò mò tọc mạch; rằng không hề có món tiền chuộc nào, đòi hỏi hồi nào bởi kẻ bắt cóc nào cả! Người trong nhà thì bảo là hai triệu; trả một nửa bằng tiền dollars, nửa kia bằng tiền pesetas. Ở Madrid, luật sư của bố anh cho báo chí biết hôm 7/1 rằng nếu tiền không đưa đúng hạn, ông bác sĩ sẽ bị trao cho quân nổi loạn Basque. Được tin này, Julio chuyển một triệu đô sang Madrid; cộng với một triệu pesetas có sẵn bên đó. Cảnh sát Madrid không cho giao tiền cho đến khi tìm ra nạn nhân.

May thay, một quân phiến loạn bị bắt đã khai ra nơi giam giữ vị bác sĩ. Trên 100 cảnh sát chống khủng bố trang bị hùng hậu đã đến một làng nhỏ để giải thoát con tin. Julio ở Miami nhận được tin vui này đầu tiên từ Carlos; rồi từ dinh tổng thống TBN và từ chính bố anh. Bố anh cho biết ông đã bị chĩa súng bắt lên một xe hơi chạy 36 giờ đến địa điểm giam giữ. Ông đã được đối xử tử tế nhưng không được tắm và thay quần áo. Sau đó, bọn bắt cóc có mua cho ông một cái áo và bắt ông trả tiền. Julio rất hiếu thảo nên đã nói “tôi vái họ bắt tôi thay vì bắt cha tôi“! Anh đã cảm ơn tổng thống TBN nhiều nhưng vẫn không hiểu sao một người không làm chính trị như cha anh lại là nạn nhân của phong trào Basque đòi độc lập mà suốt 10 năm qua họ đã giết 5 trong số 40 nạn nhân?!

Khi gặp lại Carlos, bác sĩ Iglesias chỉ hôn con mà không nói lời nào. Sau này, ông đã phải đóng cửa phòng mạch và không dám ở đâu lâu quá vài tuần. Ông đã mở tiệc linh đình khoản đãi các cảnh sát viên cứu ông rồi sang Miami với Julio. Chàng danh ca sau đó đã dẫn cha mẹ và ba con đi nghỉ hè; và từ đó luôn có cận vệ hộ tống ngày đêm. Tai qua nạn khỏi, Julio lại tiếp tục đi hát. Anh đã thành công ngoài mong đợi tại London. Anh được dựng tượng tại một viện bảo tàng ở Paris. CBS tặng anh giải “Crystal Globe Award“. Nhưng anh vẫn chưa lọt vào quần chúng nói tiếng Anh vì vẫn còn nhiều người ở đấy hỏi “Julio who?“. Anh còn kém tiếng Anh mặc dù đã ở Mỹ trên ba năm từ 1982. Anh bỏ tiền ra mướn Rogers Coman, một công ty chuyên về các dịch vụ công cộng để làm cho tên anh được quảng bá rộng rãi ở Mỹ.

Trong một buổi ra mắt ở Los Angeles, Julio đã trình diễn album có vài bài bằng Anh ngữ của anh vốn từng được bán chạy ở Anh mang tên “Begin the Beguine“. CBS cũng đang tung ra thị trường dĩa các ca sĩ gốc Spanish khác như Camilo Sesto, José Luiz Rodiguez trong thời gian này. Julio đã xuất hiện trên TV Mỹ trong “Tonight Show” của Carson. Anh cũng lọt mắt xanh của Giannina, con gái nhà ngoại giao Costa Rica nhưng anh không có nhiều thời gian cho tình ái và không có ý định thành hôn lần nữa. Anh cho rằng một nửa sự nghiệp anh đã đạt được; một nửa còn lại là Mỹ quốc, ngọn núi cao nhất mà anh sắp phải leo và phải thắng!

Anh cương quyết từ chối lối diễn xuất di động trên sân khấu. Anh chỉ thích đứng yên một chỗ với trang phục nhã nhặn cố hữu vì cho rằng như thế mới thích hợp với loại nhạc tình tứ của mình. Anh có gặp rắc rối trong lần trình diễn ở Los Angeles khi anh quay sang hát bằng Anh ngữ cho thính giả Mỹ nghe. Đám khán thính giả gốc Spanish đã giận dữ yêu cầu anh tiếp tục hát cho họ nghe. Anh đã khéo léo giải quyết bắng cách hẹn đêm khác dành riêng cho họ. Khán giả Mỹ thì thích can dự cụ thể vào âm nhạc của anh bằng cách lắc lư đầu, mình hoặc vẫy tay; thậm chí xông lên sân khấu xô cả cận vệ để nhào đến anh.

Chưa kịp ra mắt album Anh ngữ đầu tiên, anh lại nhớ “nhà” và nhận trở về hát ở Portugal và quê nhà với một đoàn hùng hậu 100 người gồm nhạc công, chuyên viên kỹ thuật và cận vệ. Lần này, dân TBN đã gác bỏ quan niệm “Bụt nhà không thiêng” sang một bên mà đón tiếp anh nồng hậu hơn. Anh đã được mời hát trước nhà vua Carlos và hoàng hậu Sophia. Giá mỗi vé từ 66 đến 100 dollars – rất cao so với tiêu chuẩn 6 đến 20 dollars; và so với lợi tức thấp của dân xứ này – thế mà đã được bán sạch! Vài chương trình còn được trực tiếp truyền thanh.

Sinh nhật thứ 40 của anh được tổ chức linh đình ở Paris. Tại đây, anh đã được nhận huy chương “Vermeil de Ville de Paris” do nguyên thị trưởng Jacque Chirac trao tặng. Vừa trở về New York lúc 10 giờ tối, một dạ tiệc khác đang chờ anh. Anh đã ca và tham dự không biết mệt! Tham lam, vội vã và nóng nảy là nét đặc thù của chàng ca sĩ này; nhưng sau cơn nóng giận luôn luôn là nụ cười bình thản. Anh nóng chỉ vì muốn tiết kiệm thì giờ; chả thế mà có lần anh đã đổ 5 tấn nước đá vào hồ tắm để anh có thể dùng ngay một hồ tắm nguội đang chứa nước nóng!

Anh vẫn chưa hoàn tất kế hoạch ra album Anh ngữ. Anh cần hát với Diana Ross, Willie Nelson và thâu băng với The Beach Boys. Bản nhạc “To All The Girls I Love Before” của Albert Hammond và Hal David năm 1975 viết cho Frank Sinatra đã chỉ được sống lại với Julio thập niên 1980s khi kỹ thuật video xuất hiện và thao túng thị trường. Do đó, các ca sĩ này chỉ cần xuất hiện trong các dịp lễ trọng thể; và không cần đến đài truyền hình vẫn có mặt thường xuyên trên TV mọi gia đình hàng ngày. Julio đã xuất hiện trong một show Giáng Sinh có TT Ronald Reagan đến dự. Anh đã hát “White Christmas” với Andy Williams; hát “Winter Wonderland” với ca đoàn thiếu nhi; và “Silent Night” solo bằng Spanish, Anh và Đức ngữ. Anh cũng hát quốc ca Mỹ tại Super Bowl. Tại Las Vegas, anh cũng chú ý đến cô người mẫu 18 tuổi Robin Smith trong hồ tắm; nhưng tình yêu đã “sớm nở tối tàn” như những cánh hồng vàng anh đã tặng nàng!

Julio nay đã là đối thủ của Michael Jackson. Khi biết hãng Pepsi mướn Michael quảng cáo, Coca-Cola cũng mướn Julio làm phát ngôn viên của mình trong ba năm. Bởi khán giả ái mộ anh là các bà eo ếch to theo lứa tuổi “hăm nhăm” nên hãng đã nhờ anh quảng cáo Diet Coke. Hơn nữa, anh đang là “lãnh tụ tinh thần” của hơn 15 triệu dân Hispanic ở Mỹ vốn là sắc dân tiêu thụ nước ngọt rất ư là …sweet!

Anh đã từ chối hát ở trụ sở LHQ chỉ vì sân khấu ở đó không có hệ thống đèn đóm chuyên nghiệp. Anh cũng phải hy sinh nhiều chiếc áo jacket đắt tiền tung xuống cho các bà ái mộ để chúng bị xé nát thành từng mảnh vụn … kỷ vật! “Moonlight Lady” là album Anh ngữ thành công đầu tiên; cũng do giám đốc Bob Giraldi của Jackson thâu vào video tapes. Julio cũng được lòng thính giả ở New Orléans khi anh yêu cầu nhân viên an ninh cho một thanh niên say rượu quậy phá được ở lại nghe anh hát thay vì bị lôi cổ ra ngoài. Anh có lần tuyên bố với khán giả rằng “… quý vị ở Mỹ sao lại khám phá ra tôi quá trễ? Ở tuổi 20, tôi đã hát hay hơn nhiều và hát suốt 5 giờ liền. Bây giờ thì không biết ambulance tới chở tôi đi lúc nào đây?!“.

Bà góa Priscilla Presley cũng liếc mắt đưa tình và đã tặng Julio những cánh hoa không biết nói. Đề tài này đã được báo chí đem lên trang nhất với nhiều bói toán lâm ly kỳ bí! Julio bây giờ hài lòng với xã hội Mỹ. Anh nói “Tôi yêu nước Mỹ. Ở đây, thành công tạo nên tán thưởng thay vì tỵ hiềm. Khi quý vị lái Rolls Royce, người ta không tìm cách chọc thủng lốp xe”! Khi dân bản xứ gốc Spanish phàn nàn rằng anh quá lớn lao, quá xa cách và bỏ rơi họ, anh chỉ vào ảnh của mình mà nói “Hãy coi da của tôi; tôi không thể quên dòng máu cội nguồn và màu da của tôi được!”.

Đoạn cuối của “triều đại” Iglesias đã tưởng như bắt đầu khi anh đang trình diễn ở Frankfurt, Đức thì giọng anh bị bể bất ngờ. Anh phải bỏ ngay cuộc du ca để về Nam Phi phơi nắng lấy lại giọng và phải vào bệnh viện dưỡng bệnh. Chỉ có thế mà hàng trăm điện tín gởi đến vấn an; trong đó có điện tín của ông bà Reagan. Xuất viện, anh lại đến Paris. Lần này có khoảng 100 cảnh sát bảo vệ để anh tránh khỏi bị các bà ái mộ “đè” bẹp! Có bà lén núp sau xe của anh. Có bà tìm cách lấy được chìa khoá phòng khách sạn của anh; phục kích sẵn trong phòng ấy với nước hoa nồng nực và vài mảnh vải che thân khiến anh phải lịch sự tìm cách hộ tống để bà ta dzui dẻ ra về!

Một tờ báo địa phương đăng hình Julio chụp ở bãi biển Hawaii với một người đẹp hở hang và đăng tin đồn một nhà kỹ nghệ Đức đã đổ tội cho Julio “đi lại” với vợ ông ta nhân khi họ ra tòa khai ly dị (!?). Julio được cố vấn khuyến cáo không nên lên tiếng chối cãi; vì càng “thanh minh thanh nga” thì càng … báo đời; bởi nguyên lý “không có lửa sao có khói“?! Thôi thì cứ im thin thít kiểu “cây ngay không sợ chết đứng” vậy!

Báo “People” năm 1999 có phỏng vấn Julio. Ký giả Joseph Tirella cho biết Julio đang nỗ lực làm việc với các nhà sản xuất trẻ gốc Latin để hâm nóng lại giọng ca của mình. Julio nói: “Cũng giống như chiếc xe đang chạy 200 mph không thắng, bạn chỉ việc nhắm mắt và chạy!”. Anh vẫn cộng tác với ca sĩ Ruben Blades, nhà soạn nhạc Robi Rosa và nhà sản xuất Estefano. Anh vẫn sống không chính thức với Miranda 36 tuổi và hai con của họ; mà với tuổi 59 hiện nay, anh cảm thấy như anh đã nói: “Tôi cảm thấy như mới … 25 tuổi“! Anh còn nói “tôi có nhiều nhà nhưng lại … vô gia cư“! Anh nhớ nhà. Con anh đã khôn lớn. Cha mẹ anh đã trở lại cố hương Madrid để quây quần bên con cháu; để về cõi “nhà” thực sự. Bên cạnh cha mẹ, con cái anh là một đống tiền của!

Tính đến hết thế kỷ XX, Julio đã bán được trên 250 triệu dĩa nhạc trên toàn cầu. Anh chuẩn bị một công trình mới vào đầu thế kỷ XXI bằng nỗ lực mới: Quy tụ các nhà sản xuất Nam Mỹ trẻ để tiếng hát của anh tràn ngập các xứ này. Với tuổi đời bước vào lục tuần ở ngưỡng cửa thế kỷ mới, anh vẫn hăng say với nghiệp ca hát. Anh bảo “cũng giống như lái xe đến một khúc quanh với vận tốc 200mph, chỉ còn có nước nhắm mắt và buông trôi...”. Anh thích làm việc chung với ca sĩ Ruben Blades, nhạc sĩ sáng tác Robi Rosa (tác giả “Livin’ la Vida Loca”) và nhà sản xuất Estefano, người cùng viết với anh 10 bài hát trong dĩa “Noche”.

Julio nay luyện tập thể dục rất nhiều; nhiều hơn hát nữa. Nhưng dĩ nhiên anh vẫn hát; hát từ “thế kỷ này sang thế kỷ khác”! Anh hiện vẫn sống chung với bạn gái Miranda tuổi chưa tới 40 và các con trai của họ: Michael Alexander 5 tuổi và Rodrigo 4 tuổi tại lâu đài của anh ở Miami, Florida. Julio nói rằng anh luôn cầu chúc những gì may mắn nhất cho những đồng nghiệp mới vào nghề như Ricky Anthony, tác giả bản “I Love Them”; như Enrique con anh với nhạc khúc “I’m Very, Very Proud of Him” và nhiều người khác nữa. Anh đã đánh đổi hạnh phúc để chọn âm nhạc. Và cũng như âm nhạc, tên anh còn mãi mãi!

HÀ BẮC

(tham khảo tài liệu của Marsha Daly)

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here